Lời Hiệu Triệu Của CTHULHU - Chương 4: BÓNG TỐI TRÙM TRÊN INNSMOUTH
BÓNG TỐI TRÙM TRÊN INNSMOUTH
- I -
Trong mùa đông cuối năm 1927 đầu năm 1928, các quan chức chính phủ Liên bang triển khai một cuộc điều tra kì lạ và bí mật về một số tình huống ở cảng biển Innsmouth cổ xưa tại Massachusetts. Công chúng lần đầu hay biết về nó vào tháng Hai, khi xảy ra hàng loạt các cuộc đột kích và bắt giữ, theo sau là việc thiêu hủy và đánh thuốc nổ có tính toán - với các biện pháp phòng ngừa thích hợp - một lượng lớn các ngôi nhà đổ nát, bị mối mọt ăn ruỗng, và được cho là trống rỗng dọc bến cảng bỏ hoang. Những người không mấy quan tâm coi sự kiện này chỉ là một trong mấy vụ đụng độ lớn của cuộc chiến chống rượu lậu thỉnh thoảng vẫn diễn ra.
Tuy nhiên, những người theo dõi tin tức một cách sắc sảo hơn lấy làm băn khoăn về số vụ bắt giữ khổng lồ, lượng nhân sự lớn bất thường được điều động để tiến hành chiến dịch, và việc giữ kín số phận của các tù nhân. Không có phiên tòa, hay thậm chí cáo buộc cụ thể nào, được báo lại cả; và sau đó cũng không ai thấy mặt bất cứ tù nhân nào trong các nhà lao bình thường trên khắp toàn quốc. Có vài công bố mập mờ về bệnh tật và trại tập trung, về sau là chuyện những tù nhân kia đã được phân bổ vào nhiều nhà tù hải quân và quân đội khác nhau, nhưng chẳng có tin gì cụ thể được đưa ra. Bản thân Innsmouth thì bị bỏ lại trong tình trạng gần như hoang vắng, và thậm chí đến tận bây giờ mới bắt đầu có dấu hiệu hồi sinh một cách đầy lề mề.
Đáp lại khiếu nại từ nhiều tổ chức tự do là các cuộc thảo luận kín rất dông dài, và đại diện của mấy tổ chức kia đã được đưa đến thăm một số trại và nhà tù nhất định. Kết quả là những tổ chức ấy trở nên thụ động và kín tiếng đến đáng ngạc nhiên. Giới báo chí thì khó giải quyết hơn, nhưng rốt cuộc phần lớn xem chừng đều hợp tác với chính phủ. Chỉ có một tờ báo duy nhất - một tờ báo lá cải vốn luôn bị coi thường bởi có những chính sách rất quái - là có đề cập đến các tàu ngầm lặn sâu đã phóng ngư lôi vào khu khe vực ngay bên ngoài Rạn Quỷ. Nguồn tin cho bài báo đó tình cờ được thu thập trong một chốn thủy thủ hay qua lại, có vẻ khá hoang đường; bởi lẽ cái rạn đá thấp, đen ngòm đó nằm cách cảng Innsmouth gần hai cây số rưỡi.
Những người loanh quanh khu đấy cũng như ở các thị trấn lân cận rì rầm bàn tán với nhau rất xôm, nhưng tiết lộ rất ít thông tin cho thế giới bên ngoài. Họ nói về thị trấn Innsmouth đang trên đà suy tàn và bị bỏ hoang gần một thế kỷ nay rồi, chẳng có sự kiện mới gì có thể điên rồ hay gớm guốc hơn những điều họ đã thì thầm và ám chỉ từ nhiều năm trước. Nhiều điều đã dạy cho họ phải biết giữ mồm giữ miệng, và bây giờ thì không việc gì phải gây áp lực cho họ cả. Mà ngoài ra, họ thực sự biết rất ít; bởi những đầm lầy muối mênh mang, hoang vắng và không có người ở, đã khiến dân tình các khu lân cận tách biệt với Innsmouth trên mạn đất liền.
Nhưng cuối cùng, tôi sẽ ngó lơ lệnh cấm phát ngôn về vụ việc này. Tôi tin chắc rằng kết quả công việc của họ hoàn hảo đến mức có hé lộ đôi điều về thứ đã được lực lượng đột kích Innsmouth khiếp đảm tìm thấy thì cũng sẽ không gây tổn hại gì cho công chúng cả, ngoại trừ việc gây ra một cú sốc ghê tởm. Ngoài ra, thứ được tìm thấy có thể có nhiều hơn một lời giải thích. Ngay cả bản thân tôi cũng không rõ mình đã được thuật lại cho nghe bao nhiêu phần của toàn bộ câu chuyện, và tôi có nhiều lý do để không muốn tìm hiểu sâu hơn. Nguyên do là bởi tôi có liên đới mật thiết đến vụ việc này hơn bất cứ người bình thường nào khác, và những ấn tượng thu lượm được khiến tôi đến nay chưa sử dụng biện pháp quyết liệt nào.
Tôi chính là người đã thục mạng chạy trốn khỏi Innsmouth vào sáng sớm ngày 16 tháng Bảy, 1927, và cũng chính tôi đã hoảng loạn mà khẩn nài, yêu cầu chính phủ tiến hành điều tra và triển khai hành động - lý do khiến xảy ra toàn bộ vụ việc vừa được thuật lại. Tôi sẵn sàng giữ im lặng trong khi vụ việc hãy còn mới mẻ và bất định; nhưng giờ đây, khi nó đã trở thành tin tức cũ, và sự quan tâm cũng như óc hiếu kỳ của công chúng đã biến mất, tôi có một khao khát kỳ lạ, thèm muốn được thì thầm kể về những giờ phút đáng sợ trong cái cảng biển chết chóc và dị thường đến báng bổ đó, cái chốn khét tiếng và bị cái ác bao trùm. Chỉ đơn thuần kể lại cũng giúp tôi khôi phục niềm tin vào đầu óc của chính mình; trấn an được bản thân rằng tôi không chỉ là người đầu tiên mắc phải một chứng ảo giác truyền nhiễm đầy ác mộng. Việc này cũng giúp tôi đưa ra được quyết định cụ thể về nước đi khủng khiếp đang chờ mình thực hiện.
Tôi chưa bao giờ nghe danh Innsmouth trước cái ngày tôi nhìn thấy nó lần đầu tiên, đồng thời - tính đến nay - cũng là lần cuối cùng. Tôi bấy giờ đang kỉ niệm tuổi trưởng thành của mình bằng một chuyến tham quan New England - ngắm cảnh, nghiên cứu cổ vật, tìm hiểu phả hệ - và đã lên kế hoạch sẽ đi thẳng từ Newburyport cổ kính đến Arkham, quê quán gốc của gia đình bên ngoại tôi. Tôi không có xe hơi, mà đi bằng tàu hỏa, xe điện, xe khách, và luôn tìm kiếm con đường rẻ nhất có thể. Ở Newburyport, người dân nói với tôi rằng cần bắt tàu hỏa hơi nước để đến Arkham; và khi đến phòng vé của nhà ga, lúc tôi kì kèo giá vé cao, tôi mới được biết về Innsmouth. Người nhân viên mập mạp, mặt mũi đầy vẻ ranh ma, với chất giọng cho thấy anh ta không phải là dân địa phương, có vẻ thông cảm với nỗ lực tiết kiệm tiền của tôi, và đưa ra một gợi ý mà không ai trong số những người cung cấp thông tin khác của tôi từng đề xuất.
“Cậu đi chuyến xe buýt cũ đó cũng chẳng hại gì đâu,” anh ta nói với chút do dự, “nhưng dân quanh đây không ưa nó lắm. Nó đi qua Innsmouth ấy mà - có thể cậu đã nghe kể về nơi đó - thế nên mọi người mới không thích chuyến này. Lái xe là một tay Innsmouth - Joe Sargent - nhưng không bao giờ có khách nào đi từ đây, tôi đoán là cả Arkham nữa. Chẳng hiểu sao chuyến vẫn tiếp tục chạy. Tôi nghĩ nó rẻ, nhưng tôi không bao giờ thấy hơn hai hay ba người trên xe - không ai khác ngoài đám dân ở Innsmouth. Khởi hành từ chỗ quảng trường - trước hiệu thuốc Hammond - lúc mười giờ sáng và bảy giờ tối, trừ khi dạo gần đây họ đã thay đổi lịch. Trông như một mớ đồng nát kinh khủng ấy - tôi chưa bao giờ đi chuyến ấy cả.”
Đó là lần đầu tiên tôi nghe về Innsmouth hắc ám. Bất kỳ lời ám chỉ nào về một thị trấn không xuất hiện trên các bản đồ thông thường hoặc được liệt kê trong sách hướng dẫn du lịch xuất bản gần đây đều khiến tôi quan tâm, và phong thái kỳ quặc của anh chàng nhân viên lúc đả động đến nó thật sự đã khơi dậy óc tò mò của tôi. Tôi thầm nghĩ rằng một thị trấn bị dân tình xung quanh thù ghét đến vậy hẳn ít nhất cũng khá bất thường, và là một nơi đáng để tham quan. Nếu nó là bến trước Arkham, tôi sẽ dừng ở đó – và vì vậy tôi yêu cầu người nhân viên cho mình biết đôi điều về nó. Anh ta suy nghĩ rất cẩn thận, và trả lời với phong thái như thể mình thượng đẳng hơn những gì đang kể.
“Innsmouth ấy à? Chà, đó là một thị trấn kỳ quái ở cửa sông Manuxet. Trước đây, chỗ đấy gần như là một thành phố - một cảng khá lớn trước cuộc chiến năm 1812 - nhưng đã suy thoái hoàn toàn trong tầm một trăm năm qua. Bây giờ không có tuyến đường sắt nào nữa - B. & M. không bao giờ xây đến đây, và tuyến đường nhánh từ Rowley đã bị bỏ dở từ nhiều năm trước rồi.
“Tôi đoán nó có nhiều nhà trống hơn số lượng dân cư, và không có hoạt động làm ăn nào đáng nhắc đến ngoại trừ đánh bắt cá và tôm cua. Tất cả mọi người buôn bán chủ yếu ở đấy hoặc ở Arkham và Ipswich. Từng một thời có khá nhiều nhà máy, nhưng bây giờ thì chẳng còn gì ngoài một nhà máy luyện vàng với lượng nhân lực bán thời gian tối thiểu.
“Tuy nhiên, nhà máy luyện vàng đó từng là một nhà máy lớn, và Lão Khọm Marsh, chủ sở hữu của nó, hẳn phải giàu có hơn Croesus. Tuy nhiên, lão là một kẻ kỳ quái, cứ ru rú trong nhà. Nghe bảo lão mắc phải một chứng bệnh da liễu hay dị tật nào đó lúc về già, khiến cho lão phải sống ẩn dật. Cháu trai của Thuyền trưởng Obed Marsh, người sáng lập nhà máy. Mẹ lão hình như là người ngoại quốc - họ nói bà ta là một người dân đảo Nam Thái Bình Dương - thế nên mọi người cùng chung tay nuôi nấng Cain cho đến khi lão kết hôn với một cô gái quê Ipswich năm mươi năm trước. Dân Innsmouth luôn làm thế, và những người ở quanh đây luôn cố gắng che đậy bất cứ chút máu Innsmouth nào mình sở hữu. Nhưng theo như những gì tôi thấy, lũ con cháu nhà Marsh trông chẳng có gì bất thường cả. Người ta đã chỉ mặt chúng cho tôi thấy ở đây - nhưng, giờ ngẫm lại, dạo gần đây mấy đứa lớn dường như không xuất hiện nữa. Chưa bao giờ nhìn thấy lão già.
“Tại sao tất cả mọi người lại khinh thường Innsmouth thế à? Anh bạn trẻ ơi, cậu đừng có quá tin những gì người dân ở đây nói. Khó cạy miệng họ lắm, nhưng một khi đã bắt đầu nói thì họ sẽ không bao giờ dừng lại. Tôi đoán họ đã đồn đại nhiều điều về Innsmouth - chủ yếu thì thầm rỉ tai nhau thôi - suốt cả trăm năm qua, và tôi nghĩ họ làm vậy vì sợ hãi hơn bất cứ điều gì khác. Một số câu chuyện sẽ khiến cậu không khỏi bật cười - lão Thuyền trưởng Marsh đã giao kèo với ác quỷ và đưa quỷ sứ ra khỏi địa ngục để sống ở Innsmouth chẳng hạn, hoặc một trò thờ phụng ma quỷ và hiến tế khủng khiếp ở nơi nào đó gần bến tàu mà thiên hạ đã tình cờ phát hiện ra vào khoảng năm 1845 - nhưng tôi đến từ Panton, Vermont, và tôi không tin mấy kiểu chuyện đó đâu.
“Tuy nhiên, cậu nên nghe những gì mấy người già kể về cái rạn san hô hắc ám ngoài khơi - họ gọi nó là Rạn Quỷ. Phần lớn thời gian nó lộ trên mặt nước, và không bao giờ chìm quá sâu xuống dưới, nhưng khó có thể gọi nó là một hòn đảo. Theo lời đồn thì đôi khi người ta nhìn thấy nguyên cả một đoàn quỷ trên rạn san hô đó - nằm ườn khắp nơi, hay chui ra chui vào một số hang động gần đỉnh. Nó là một cái rạn lởm chởm, không bằng phẳng, nằm ngoài khơi hơn một cây số rưỡi, và hồi trước, vào cuối ngày vận chuyển, các thủy thủ thường đi vòng rất xa chỉ để tránh nó.”
“Nhưng đó là các thủy thủ không đến từ Innsmouth. Một trong những điều họ không ưa về lão Thuyền trưởng Marsh là theo lời đồn, lão đôi khi cập bến cái rạn đó vào ban đêm khi thủy triều lên. Có khi đúng là lão làm vậy thật, tôi dám nói rằng cái ghềnh đá đấy khá thú vị, và cũng không loại trừ khả năng lão tìm kiếm của để cướp, mà có khi lão tìm thấy nó thật; nhưng có tin đồn là lão thương lượng với quái vật ở đó. Thực tình mà nói, tôi đoán xét tổng thể thì lão Thuyền trưởng chính là người khiến cho rạn san hô bị mang tiếng xấu.
“Đó là trước đại dịch năm 1846, khi hơn một nửa số dân ở Innsmouth bị chở đi. Họ không bao giờ phát hiện ra được vấn đề là gì, nhưng có lẽ đó là một loại bệnh ngoại lai từ Trung Hoa hoặc đâu đó do tàu bè vận chuyển đến. Thật sự rất tệ hại - đã có những cuộc bạo loạn nổ ra vì nó, và đủ những việc làm ghê rợn mà tôi không tin là từng có ai ngoài thị trấn hay biết - đại dịch khiến cái nơi ấy rơi vào tình trạng rất thảm hại. Không bao giờ phục hồi được - bây giờ không thể có quá ba hoặc bốn trăm người sống ở đó.
“Nhưng lý do thực sự khiến cho thiên hạ cảm thấy như thế chỉ đơn giản là phân biệt chủng tộc thôi - và tôi không nói rằng mình trách cứ gì những người mang định kiến như thế đâu nhé. Bản thân tôi cũng ghét đám dân Innsmouth đó, và tôi không muốn đặt chân đến thị trấn của họ. Chắc cậu cũng biết - mặc dù tôi có thể thấy cậu là người miền Tây thông qua cái kiểu ăn nói của cậu - rất nhiều tàu New England của chúng tôi từng trao đổi buôn bán với các bến cảng kỳ quái ở châu Phi, châu Á, Nam Thái Bình Dương và mọi nơi khác, và họ đôi khi mang những chủng người kỳ quái theo về với mình. Cậu chắc đã nghe nói về cái tay Salem đem một cô vợ Trung Hoa về nhà, có khi cậu biết vẫn còn có một nhóm dân đảo Fiji ở đâu đó quanh Mũi Cod rồi đấy.
“Hẳn phải có một chuyện gì đó giống như thế đằng sau đám dân Innsmouth. Cái nơi này vốn luôn bị đầm lầy và những con lạch làm cho tách biệt hẳn khỏi phần còn lại của đất nước, và chúng ta không thể biết chắc được sự tình cụ thể là sao; nhưng rõ ràng là lão Thuyền trưởng Marsh hẳn đã mang về nhà một số tộc dân kỳ lạ hồi cả ba con tàu của lão đều còn hoạt động trong những năm hai mươi và ba mươi. Chắc chắn máu dân Innsmouth ngày nay có pha lẫn một tố chất kỳ lạ - tôi không biết phải giải thích điều đó như thế nào, nhưng nó khiến cậu sởn gai ốc đấy. Cậu sẽ phần nào để ý thấy điều đó ở Sargent nếu cậu đi xe buýt của gã. Một số người trong đám bọn họ có đầu hẹp đến quái đản với cái mũi tẹt và mắt lồi, chòng chọc dường như không bao giờ nhắm, và da của họ có gì đó không hợp lý lắm. Thô nhám và đầy vảy, hai bên cổ thì đều bị nhăn nheo hoặc nhàu nhĩ hẳn lại. Còn bị hói từ lúc rất trẻ nữa. Đám dân lớn tuổi là trông tệ nhất - thật tình mà nói, tôi tin mình chưa bao giờ nhìn thấy ai cao tuổi trong số dân ở đó cả. Chắc họ lăn ra chết cả vì soi gương rồi! Động vật ghét họ lắm - họ từng gặp rất nhiều rắc rối với đám ngựa trước khi ô tô được đưa vào sử dụng.
“Không ai ở đây hay Arkham với Ipswich muốn dính dáng đến họ, và bản thân họ cũng hành xử kiểu khinh khỉnh khi vào thị trấn hoặc khi có bất cứ ai tìm cách đánh cá trong lãnh thổ của họ. Kì quái là cá luôn tụ rất đông ngoài cảng Innsmouth khi không có bất cứ con nào ở những vùng khác xung quanh đấy - nhưng cậu cứ thử đi câu ở đấy mà xem họ sẽ đuổi cậu đi như thế nào! Những người đó từng đến đây bằng tàu hỏa - lội bộ và bắt tàu ở Rowley sau khi tuyến đường nhánh bị bãi bỏ - nhưng bây giờ thì họ sử dụng xe buýt kia.
“Vâng, có một cơ sở lưu trú ở Innsmouth - Nhà trọ Gilman - nhưng tôi chẳng tin nó tử tế mấy. Tôi không khuyên cậu thử trọ ở đó đâu. Tốt hơn hết là nên ở lại đây và bắt chuyến xe buýt lúc mười giờ sáng mai; sau đó cậu có thể bắt chuyến buổi tối tới Arkham lúc tám giờ. Có một thanh tra nhà máy từng trọ lại Gilman vài năm trước, và ông ta đã ám chỉ nhiều điều không mấy thoải mái về nơi này. Có vẻ khách ở đấy rất kỳ quái, ông kia đã nghe thấy giọng nói trong các phòng khác - mặc dù hầu hết các phòng đều trống rỗng - khiến bản thân không khỏi rùng mình. Ông ta thầm nghĩ nghe có vẻ như tiếng nước ngoài, nhưng ông ta nói rằng điều tồi tệ về nó là cái kiểu giọng đôi khi cất tiếng. Nghe thật phi tự nhiên - ông ta bảo là nghe cứ ọc ạch - khiến cho ông ta không dám cởi quần áo và đi ngủ. Chỉ có thể thức chờ đợi và rời đi ngay khi trời sáng. Cuộc nói chuyện diễn ra gần như suốt đêm.
“Cái ông tên Casey này nói rất nhiều về cách đám dân Innsmouth theo dõi ông ta và trông có vẻ cảnh giác. Ông ta thấy nhà máy luyện vàng Marsh là một nơi kì quái - nó nằm trong một nhà máy cũ trên thác hạ của sông Manuxet. Những gì ông ta nói ăn khớp với những gì tôi đã nghe. Sổ sách rất cẩu thả, và không có chương mục rõ ràng về bất kì giao dịch nào. Cậu biết đấy, việc gia đình nhà Marsh lấy đâu ra chỗ vàng mà họ dùng để tinh luyện luôn là một bí ẩn. Họ chẳng bao giờ mua lắm nguyên liệu, nhưng nhiều năm trước, họ đã chuyển đi kha khá vàng thỏi.
“Trước đây người ta hay bàn tán về một kiểu trang sức ngoại kỳ quái mà các thủy thủ và nhân viên nhà máy luyện đôi khi vẫn bán lén, hay đã một hay hai lần gì đó, người ta trông thấy cánh phụ nữ nhà Marsh đeo chúng. Thiên hạ đoán rằng có khi lão Thuyền trưởng Obed đã đổi lấy chúng ở một cảng biển tà đạo nào đó, đặc biệt là vì lão luôn đặt mua rất nhiều hạt cườm và các món đồ rẻ tiền mà dân đi biển vẫn thường dùng để trao đổi với người bản địa. Một số người khác nghĩ và vẫn cho rằng lão đã tìm thấy một kho trữ báu vật cũ của hải tặc ngoài Rạn Quỷ. Nhưng lạ một điều là thế này. Lão Thuyền trưởng già đã chết được sáu mươi năm rồi, và kể từ hồi Nội chiến đến nay chưa có một con tàu to nào ra đó cả; nhưng dẫu vậy, người ta bảo với tôi rằng gia đình nhà Marsh vẫn tiếp tục mua mấy món để trao đổi với dân bản địa - chủ yếu là thủy tinh và những món cao su vớ vẩn. Có khi đám dân Innsmouth thích nhìn ngắm chính mấy món đó.
“Trận dịch năm 1846 hẳn là đã khử mất những người mang máu tử tế nhất ở nơi ấy. Dù gì thì gì, bây giờ họ đáng ngờ lắm, gia đình Marsh và những kẻ giàu có khác cũng tệ chẳng kém gì ai. Như tôi đã kể với cậu đấy, chắc chẳng có hơn bốn trăm người trong toàn thị trấn, bất chấp diện tích rộng lớn của chỗ đấy. Tôi đoán ở mạn dưới Nam, người ta gọi họ là dân ‘da trắng rác rưởi’ - vô pháp vô thiên và quỷ quyệt, đầy những trò bí bí ẩn ẩn. Họ có rất nhiều cá và tôm hùm, xuất khẩu bằng xe tải. Kỳ quái là cá lại cứ tụ hết ở đó chứ không phải là nơi nào khác.
“Không ai có thể theo dõi được những người này, và các quan chức nhà nước cũng như những người điều tra dân số đã gặp rất nhiều khó khăn. Xin cam đoan với cậu rằng những người lạ tọc mạch không được chào đón ở Innsmouth đâu. Bản thân tôi đã nghe kể về nhiều hơn một doanh nhân hay nhân viên nhà nước biến mất ở đó, người ta đồn rằng một người đã phát điên và bây giờ đang ở trong bệnh viện Danvers. Họ hẳn là đã bày ra trò hù dọa nào đấy rất kinh khủng với cái người đó.
“Chính vì thế mà nếu là cậu, tôi sẽ không đi vào ban đêm đâu. Tôi chưa bao giờ đến đó và không muốn đến chút nào, nhưng tôi tin đi vào ban ngày sẽ chẳng có hại gì cho cậu cả - dù những người ở đây sẽ khuyên cậu không nên đi. Nếu cậu chỉ tham quan và tìm kiếm những thứ thời xưa, Innsmouth sẽ là một nơi khá phù hợp với cậu.”
Và vì vậy, tôi đã dành một phần của buổi tối hôm đó tại thư viện công Newburyport để tra cứu dữ liệu về Innsmouth. Khi thử dò hỏi dân bản địa trong các cửa hàng, tiệm ăn trưa, nhà để xe, và trạm cứu hỏa, tôi thấy họ thậm chí còn khó cạy miệng hơn so với dự đoán của anh chàng nhân viên bán vé; và tôi nhận ra rằng mình không thể phung phí thời gian để vượt qua bản tính kín tiếng lúc mới đầu của họ được. Họ mang một sự ngờ vực mơ hồ, như thể có điều gì đó không ổn với bất kỳ ai quan tâm đến Innsmouth một cách quá đà. Tại Hiệp hội Thanh niên Cơ Đốc giáo, nơi tôi đang dừng chân, cậu nhân viên chỉ đơn thuần khuyên can tôi đừng đến một nơi u ám, suy đồi như vậy; những người ở thư viện cũng tỏ thái độ tương tự. Rõ ràng, trong con mắt của những người có học thức, Innsmouth chỉ đơn thuần là một trường hợp dân tình bị thoái hóa nặng.
Các cuốn lịch sử của hạt Essex trên kệ sách thư viện chẳng có thông tin gì nhiều nhặn để cung cấp, ngoại trừ việc thị trấn được thành lập năm 1643, trứ danh với ngành đóng tàu trước Cách mạng, một thị trấn cảng rất thịnh vượng vào đầu thế kỉ thứ mười chín, và sau đó là một trung tâm công nghiệp nhỏ, tận dụng sông Manuxet để lấy năng lượng. Trận dịch bệnh và bạo loạn năm 1846 được đề cập đến rất qua loa, như thể chúng làm hạt bị mất uy tín.
Rất ít thứ đề cập đến quá trình suy thoái, mặc dù giai đoạn này mang ý nghĩa hệ trọng không thể chối bỏ. Sau Nội Chiến, toàn bộ hoạt động công nghiệp chỉ giới hạn trong Công ty Tinh luyện Marsh, và việc buôn bán vàng thỏi cấu thành hoạt động thương mại lớn duy nhất còn sót lại bên cạnh công việc đánh bắt cá muôn thuở. Công việc đánh bắt ngày càng mang lại ít lợi nhuận hơn vì giá cả của mặt hàng ấy thụt giảm và các tập đoàn quy mô lớn tham gia cạnh tranh, nhưng quanh cảng Innsmouth không bao giờ thiếu cá. Người ngoại quốc hiếm khi định cư ở Innsmouth, và bất chấp đã bị che giấu cẩn thận, vẫn có một số bằng chứng cho thấy rằng một số người Ba Lan và Bồ Đào Nha từng thử làm vậy đã bị xua đi theo một kiểu cực kỳ tàn khốc.
Thú vị nhất trong số tất cả các thông tin này là một bài viết nhắc qua đến mấy món đồ trang sức kì lạ hơi được cho là có dính dáng đến Innsmouth. Chúng rõ ràng đã gây ấn tượng đáng kể cho toàn miền quê này, bởi vì bài viết có đề cập đến các mẫu vật trong bảo tàng của Đại học Miskatonic tại Arkham, và trong phòng trưng bày của Hiệp hội Lịch sử Newburyport. Các đoạn mô tả rời rạc về các món trang sức rất sơ sài và tẻ ngắt, nhưng chúng vẫn gợi cho tôi cảm giác ẩn chứa đằng sau là một sự kì quái bất biến. Chúng mang nét gì đó hết sức kỳ quặc và khơi gợi, đến nỗi tôi không tài nào gạt bỏ được chúng ra khỏi tâm trí của mình, và mặc dù bấy giờ đã tương đối trễ, tôi quyết định đi xem mẫu vật tại địa phương - theo lời tả thì là một món trang sức lớn, với tương quan tỉ lệ quái đản, rõ ràng là được thiết kế để dùng làm vương miện đội đầu - nếu có thể thu xếp được chuyện ấy.
Người thủ thư cấp cho tôi một giấy giới thiệu để đưa cho người quản lý Hiệp hội, một bà tên Anna Tilton, sống gần đó, và sau lời giải thích ngắn gọn, người phụ nữ già hiền hậu đã tử tế đưa tôi vào tòa nhà bấy giờ đã đóng cửa, vì hiện vẫn chưa quá khuya khoắt. Bộ sưu tập thực sự rất đáng chú ý, nhưng trong tâm trạng hiện tại, tôi chẳng quan tâm đến gì ngoài vật thể kỳ quái trong một cái tủ nằm ở góc phòng, lấp lánh dưới những ngọn đèn điện.
Không cần phải quá nhạy bén với cái đẹp thì tôi cũng há hốc kinh ngạc trước sự lộng lẫy kì lạ, huyền ảo của thứ tạo vật mơ tưởng xa lạ, sang trọng, hiện đang đặt trên tấm đệm nhung tím kia. Ngay cả bây giờ, tôi cũng khó lòng tả nổi thứ mình nhìn thấy, mặc dù nó rõ ràng là một kiểu vương miện, hệt như những gì mô tả đã ghi. Mặt trước của nó cao, kèm theo một cái vành rất lớn và có hình dáng bất thường đến lạ lùng, như thể được thiết kế cho một cái đầu với dáng hình quái dị, gần như là elip. Vật liệu chế tác dường như chủ yếu là vàng, mặc dù nó sở hữu một sắc bóng nhẹ khác thường, cho thấy nó được pha trộn với một thứ kim loại lạ đẹp chẳng kém và không rõ danh tính nào đấy. Món đồ ở trong tình trạng gần như hoàn hảo, và ta có thể bỏ ra hàng giờ để nhìn ngắm các thiết kế ấn tượng và phi truyền thống đến khó hiểu - một số chỉ là hình học đơn giản, và một số trông rõ là hình ảnh biển - được khắc hay đúc thành các hình nổi cao một cách khéo léo và thanh nhã đến đáng kinh ngạc trên bề mặt.
Càng nhìn lâu, cái vật này càng hớp hồn tôi; và lẫn vào với sự mê hoặc ấy là một nét bất an lạ thường, khó lòng phân loại hoặc lý giải nổi. Mới đầu tôi quyết định rằng thứ khiến mình cảm thấy không thoải mái chính là cái bản chất phi thực kỳ quái của hình ảnh. Tất cả các tạo tác nghệ thuật khác mà tôi từng thấy đều thuộc trường phái của một chủng tộc hoặc quốc gia đã biết nào đó, hoặc không thì cũng mang phong cách cố ý đi ngược lại mọi trường phái đã được biết đến thời hiện đại. Chiếc vương miện này không thuộc về cả hai trường hợp. Rõ ràng nó là thành phẩm của một trường phái đã định hình với mức trưởng thành và độ hoàn hảo cao tột cùng, ấy nhưng trường phái đó lại khác hẳn bất cứ trường phái nào - dù là phương Đông hay phương Tây, cổ xưa hay hiện đại - mà tôi từng nghe đến hoặc đã được diện kiến thành phẩm. Cứ như thể người thợ tạo ra nó đến từ một hành tinh khác vậy.
Tuy nhiên, tôi sớm nhận ra rằng sự khó chịu của mình còn bắt nguồn từ một nguyên nhân thứ hai và có khi cũng mạnh mẽ chẳng kém gì nguyên nhân thứ nhất, ấy chính là những yếu tố mà các mẫu hình thiết kế khác lạ đó khơi gợi ra, cả về mặt hình ảnh lẫn bản chất toán học. Tất cả các họa tiết đều ám chỉ đến những bí mật xa xăm và các vực thẳm ngoài sức tưởng tượng trong thời gian và không gian, và cái chất sông nước đơn điệu của các bức hình phù điêu trở nên gần như nham hiểm. Nằm lẫn trong các bức hình đó là những con quái vật huyền hoặc, dị hợm và hiểm ác đến ghê tởm - trông nửa giống cá và nửa giống ếch nhái - chúng khiến ta không khỏi liên tưởng đến một thứ na ná kí ức, đầy ám ảnh và không thoải mái, như thể chúng khơi gợi lên hình ảnh nào đó từ các tế bào và mô ẩn sâu trong cơ thể, hãy còn lưu giữ các chức năng cực kì nguyên thủy và vô cùng cổ xưa. Đã mấy lần tôi cứ ngỡ mọi đường nét của những con cá ếch báng bổ này đều ngập tràn thứ tinh chất tối thượng của cái ác vô danh và phi nhân tính.
Trái ngược đến lạ thường với diện mạo của chiếc vương miện là lịch sử ngắn ngủi và tẻ nhạt của nó, được bà Tilton kể lại. Nó đã bị một gã dân Innsmouth say xỉn đem đi cầm để đổi lấy một khoản tiền lố bịch tại một cửa hàng ở phố State năm 1873, và liền sau đó gã kia đã bỏ mạng trong một cuộc ẩu đả. Hiệp hội mua lại nó trực tiếp từ cửa hàng cầm đồ, và ngay lập tức cho nó một kệ trưng bày xứng đáng với phẩm chất của mình. Chiếc vương miện được đánh nhãn là có thể mang nguồn gốc Đông Ấn hoặc Đông Dương, mặc dù thẳng thắn mà nói thì thuộc tính ấy chỉ là tạm thời mà thôi.
Sau khi đã so sánh tất cả các giả thuyết tiềm tàng về nguồn gốc cũng như sự hiện diện của nó ở New England, bà Tilton tin rằng nó là một phần của kho báu hải tặc kì lạ nào đó do lão Thuyền trưởng Obed Marsh phát hiện ra. Chắc chắn một điều là độ khả thi của quan điểm này không hề suy giảm trước việc gia đình Marsh không ngừng đưa ra những đề nghị mua chiếc vương miện với mức giá cao ngay khi hay biết về sự hiện diện của nó, và họ cứ liên tục lặp đi lặp lại cho đến tận ngày hôm nay, bất chấp việc Hiệp hội cương quyết không bán.
Lúc người phụ nữ tốt bụng đưa tôi ra khỏi tòa nhà, bà nói rõ rằng giả thuyết gia tài của nhà Marsh đến từ cướp biển rất được những người thông minh quanh đây ưa chuộng. Về phần Innsmouth hắc ám - nơi bà chưa thấy bao giờ - bà tỏ thái độ ghê tởm trước một cộng đồng đã thoái hóa rất nặng về mặt văn hóa, và bà cam đoan với tôi rằng những tin đồn về việc thờ phụng ma quỷ cũng phần nào có lí, bởi lẽ một giáo phái bí mật kỳ dị đã trỗi dậy ở đó và nhấn chìm tất cả các nhà thờ chính thống.
Bà nói nó được gọi là “Bí Hội Dagon”, và chắc chắn là một kiểu dị giáo hủ bại du nhập từ phương Đông một thế kỷ trước, vào thời điểm ngành chài lưới tại Innsmouth xem chừng sẽ trở nên suy tàn. Việc Bí Hội này cứ tồn tại dai dẳng mãi giữa một đám dân đầu óc giản đơn kể ra cũng khá tự nhiên, bởi vì cá tôm bất chợt vĩnh viễn quay trở lại với số lượng nhiều vô kể, và nó nhanh chóng trở thành tổ chức có sức ảnh hưởng lớn nhất trong thị trấn, thay thế hoàn toàn Hội Tam Điểm và lấy hội trường cũ của Hội Tam Điểm chỗ New Church Green làm trụ sở.
Đối với bà Tilton ngoan đạo, tất cả điều này là lý do rất thích đáng để tránh xa cái thị trấn cổ suy tàn và hoang vắng; nhưng đối với tôi đó lại đơn thuần chỉ là một động cơ mới mẻ. Bên cạnh hào hứng tìm hiểu về kiến trúc và lịch sử, tôi giờ lại còn cực kì sốt sắng muốn khám phá về nhân học nữa, và tôi gần như chẳng tài nào ngủ nổi trong căn phòng nhỏ của mình tại Hiệp hội trong khi đêm dần trôi qua.
- II -
Mười giờ kém sáng hôm sau, tôi đứng với chiếc va-li nhỏ trước hiệu thuốc Hammond ở quảng trường trung tâm cổ, đợi chiếc xe buýt của Innsmouth. Khi giờ cập bến đến gần, tôi để ý thấy một đám vô công rồi nghề thơ thẩn dời sang nơi khác ở mạn trên phố, hoặc đến quán Ideal Lunch phía bên kia quảng trường. Rõ ràng là nhân viên bán vé đã không hề phóng đại sự chán ghét của người dân địa phương với Innsmouth và những công dân của nó. Chỉ chốc sau, một chiếc xe khách nhỏ hư nát vô cùng, mang màu xám bẩn thỉu lạch cạch lăn bánh dọc phố State, rẽ sang bên, và đỗ lại lề đường cạnh tôi. Tôi ngay lập tức cảm thấy rằng đây chính là cái xe mình chờ; và phỏng đoán ấy đã được tấm bảng hiệu gần như vô phương đọc nổi trên kính chắn gió xác minh: Arkham - Innsmouth - Newb’port.
Chỉ có ba hành khách - mấy gã da đen, luộm thuộm với mặt mày sưng sỉa và diện mạo có phần trẻ trung - khi chiếc xe dừng lại, họ lóng ngóng bước ra và bắt đầu đi dọc phố State với vẻ lầm lì, gần như lấm lét. Tài xế cũng xuống xe, và tôi nhìn hắn bước vào trong cửa hàng thuốc để mua gì đó. Tôi thầm nghĩ rằng đây hẳn phải là cái tay Joe Sargent mà anh nhân viên bán vé đã nhắc đến; và khi thậm chí còn chưa nhìn ra bất kỳ đặc điểm cụ thể nào, tôi đã đột ngột bị một làn sóng ác cảm bao trùm lên mình, không thể kiềm chế hay lý giải. Tôi chợt cảm thấy việc người dân địa phương không muốn đi chiếc xe buýt do tay này sở hữu và điều khiển, hoặc hạn chế đến thăm nơi hắn cũng như đồng đảng của hắn sống hết mức có thể, là một điều rất tự nhiên.
Khi người lái xe ra khỏi cửa hàng, tôi quan sát hắn cẩn thận hơn và cố gắng xác định ngọn nguồn cái ấn tượng tà ác của mình. Hắn là một người đàn ông gầy gò, vai gù, với chiều cao không dưới một mét tám, mặc quần áo thường dân màu xanh tồi tàn và đội chiếc mũ đánh golf sờn rách. Tuổi của hắn có lẽ là ba mươi lăm, nhưng những nếp nhăn kì lạ, sâu thẳm ở hai bên cổ khiến hắn trông già hơn nếu ta không nhìn vào khuôn mặt lù đù, vô cảm của hắn. Hắn có một cái đầu hẹp, đôi mắt lồi, ướt át màu xanh nhìn như thể không bao giờ chớp, mũi tẹt, trán và cằm ngắn ngủn, và cặp tai thui chột lạ thường. Đôi môi dài và dày, má xám ngoét, đầy những lỗ chân lông thô của hắn trông gần như không có chút râu ria nào ngoại trừ vài sợi lông màu vàng thưa thớt, mọc lộn xộn và quăn queo theo những mảng không đồng đều; và có mấy chỗ bề mặt xem chừng không được láng mịn, như thể bị một chứng bệnh da liễu nào đấy làm cho bong tróc. Đôi bàn tay hắn to và có rất nhiều gân, mang một sắc xanh xám rất khác thường. Các ngón tay ngắn đáng kinh ngạc so với phần còn lại của cơ thể, và dường như có xu hướng cuộn chặt vào trong lòng bàn tay khổng lồ. Khi hắn đi về phía chiếc xe, tôi quan sát cái dáng đi lóng ngóng khác thường của hắn và thấy rằng đôi chân hắn to lớn khủng khiếp. Càng nhìn ngắm chúng lâu, tôi càng không hiểu làm thế nào mà hắn có thể mua được giày vừa chân.
Hắn có phần nhớp nháp, khiến cho tôi lại càng cảm thấy khó ưa tợn. Hắn rõ ràng hay làm việc hoặc lang thang quanh các cảng đánh bắt cá, và mang theo mình phần nhiều cái mùi đặc trưng của nơi ấy. Tôi thậm chí còn không thể đoán nổi hắn mang dòng máu ngoại lai nào trong huyết quản. Sự kì quặc của hắn chắc chắn trông không giống dân châu Á, Polynesia, Cận Đông, hay dân da đen, ấy nhưng tôi có thể hiểu tại sao mọi người lại thấy hắn quái lạ. Bản thân tôi thì sẽ nghĩ đây là do thoái hóa sinh học chứ không phải là lai máu lạ.
Tôi lấy làm tiếc nuối khi thấy sẽ không có hành khách nào khác trên chiếc xe. Chẳng hiểu sao, tôi không thích ý tưởng đi xe một mình với gã tài xế này. Nhưng bởi vì rõ ràng là đã gần đến lúc rời đi, tôi chế ngự mọi nỗi day dứt của mình và đi theo tên kia lên xe, chìa cho hắn một tờ đô la và lẩm bẩm đúng một từ “Innsmouth”. Hắn nhìn tôi với một ánh mắt khác thường trong giây lát trong khi trả lại bốn mươi xu mà chẳng nói chẳng rằng. Tôi ngồi phía đằng sau hắn, nhưng ở cùng một bên ghế, bởi vì tôi muốn nhìn ngắm bờ biển trong lúc thực hiện chuyến hành trình.
Một lúc sau, chiếc xe ọp ẹp khởi động với một cú giật, và ồn ã chạy qua những tòa nhà gạch cũ của phố State giữa một đám mây hơi bốc ra từ ống xả. Lạ lùng thay, khi liếc nhìn những người trên vỉa hè, tôi có cảm tưởng hình như họ muốn tránh nhìn vào chiếc xe buýt - hay ít nhất là muốn tránh bị trông như thể đang nhìn vào nó. Thế rồi chúng tôi rẽ sang trái vào phố High, nơi đường đi bằng phẳng hơn; băng qua các biệt thự cổ kính của nước cộng hòa thuở còn sơ khai và những trang trại thuộc địa thậm chí còn lâu đời hơn, đi qua khu Lower Green và sông Parker, rồi cuối cùng là vào trong một dải đất ven biển trống trải dài, đơn điệu.
Tiết trời bấy giờ ấm áp và có nắng, nhưng chúng tôi càng đi xa, khung cảnh toàn cát, cỏ cói, và cây bụi còi cọc ngày càng trở nên hoang vu hơn. Bên ngoài cửa sổ, tôi có thể nhìn thấy làn nước trong xanh và đường bờ biển đầy cát của đảo Plum, và chẳng bao lâu sau chúng tôi đã rẽ ra rất gần bãi biển, lúc con đường hẹp của chúng tôi tách ra khỏi từ đường cao tốc chính rồi dẫn vào Rowley và Ipswich. Không thấy bóng dáng nhà cửa nào hết, và căn cứ vào tình trạng của con đường, tôi có thể xác định được rằng quanh đây rất ít người qua lại. Các cột điện thoại nhỏ bị nắng mưa tàn phá chỉ có hai đường dây kết nối. Thỉnh thoảng chúng tôi lại băng qua những cây cầu gỗ thô sơ bắc ngang những con lạch thủy triều dẫn sâu vào trong đất liền, càng khiến cho khu vực này thêm phần biệt lập.
Thỉnh thoảng tôi để ý thấy những gốc cây chết và các bức tường móng đổ nát trên lớp cát trôi ngang, và nhớ đến cái tích xưa, được trích dẫn trong một cuốn sách lịch sử mình từng đọc, rằng nơi đây từng là một vùng quê màu mỡ và đông người sinh sống. Theo lời đồn thì sự thay đổi xuất hiện cùng lúc với đại dịch Innsmouth năm 1846, và đám dân đầu óc giản đơn cho rằng nó có mối liên hệ đen tối với những thế lực xấu xa bí ẩn. Trên thực tế, nguyên nhân là do rừng gần bờ bị chặt phá bừa bãi, khiến đất đã mất đi lớp bảo vệ tốt nhất và mở đường cho những đợt sóng cát do gió thổi càn quét.
Cuối cùng, đảo Plum cũng đã khuất tầm mắt của chúng tôi và Đại Tây Dương mênh mông mở ra ở bên trái. Con đường hẹp bắt đầu dốc hơn, và tôi cảm thấy bất an dị thường khi nhìn vào cái đỉnh dốc lẻ loi phía trước, nơi con đường hằn vệt bánh xe giao với bầu trời. Cứ như thể chiếc xe buýt sẽ tiếp tục lao lên, rời hẳn khỏi Trái Đất lành mạnh và hòa vào với cái miền bí hiểm của làn không khí trên cao và nền trời khó hiểu. Mùi hương của biển bắt đầu mang những ý nghĩa u ám, và gã tài xế thầm lặng chúi tới trước, cái lưng cứng ngắc và cái đầu hẹp ngày càng trở nên đáng ghét. Khi nhìn hắn, tôi thấy rằng phía sau đầu hắn cũng gần như trơ trụi giống bản mặt, chỉ có vài sợi tóc vàng lơ thơ trên một bề mặt sần sùi màu xám.
Thế rồi chúng tôi lên đến đỉnh dốc và nhìn thấy thung lũng rộng lớn phía bên kia, nơi sông Manuxet nối với biển ngay mạn Bắc của một dải vách đá dài, đầu chót là chỏm Kingsport và rẽ lệch về phía Mũi Ann. Trên đường chân trời mù sương xa xa, tôi có thể lờ mờ nhìn thấy mặt ngang cao chót vót của Chỏm Kingsport, trên đỉnh là ngôi nhà cổ kỳ quái với nhiều truyền thuyết được thêu dệt xung quanh. Nhưng lúc bấy giờ, toàn bộ tâm trí tôi bị thu hút bởi bức tranh toàn cảnh nằm gần đấy hơn, ngay bên dưới mình. Tôi nhận ra mình đã mặt đối mặt Innsmouth hắc ám trong lời đồn.
Đấy là một thị trấn với diện tích rộng và nhà cửa san sát, ấy nhưng lại thiếu vắng sự sống đến kì lạ. Hầu như không có một làn khói nào bốc lên từ mớ ống khói lộn xộn, ba tháp chuông cao đứng lù lù, hằn in trơ trụi và không chút màu sơn trên chân trời hướng ra phía biển. Một trong số chúng đã nứt vỡ ở trên đỉnh, nó cùng một tháp chuông khác chỉ có những cái lỗ toang hoác màu đen nơi đáng lẽ phải là mặt đồng hồ. Cái triền bất tận những mái nhà hai mảng lụp xụp và các đầu hồi đỉnh nhọn chui rúc vào với nhau truyền tải một cách rõ nét đến phát tởm sự sâu mọt mục ruỗng, và trong lúc chúng tôi lại gần nó trên con đường nay đã dốc xuống, tôi có thể thấy rằng nhiều mái nhà đã bị sụp đổ hoàn toàn. Cũng có cả một số ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Georgia hình vuông lớn nữa, với mái hình tháp, đỉnh vòm, và ban công mái có lan can. Những ngôi nhà này chủ yếu cách xa mép nước, và một hoặc hai nhà xem chừng vẫn còn trong tình trạng khá tử tế. Tôi nhìn thấy trải dài vào trong đất liền từ giữa chúng là những đoạn đường gỉ sét, cỏ dại mọc đầy của tuyến đường sắt bị bỏ hoang, cùng với các cột điện báo nghiêng nay đã không còn dây điện, và những con đường xe ngựa dẫn đến Rowley và Ipswich cũ, bị che khuất một nửa.
Gần biển là chỗ bị suy tàn nặng nhất, mặc dù ở ngay giữa khu này, tôi có thể trông thấy tháp chuông trắng của một công trình gạch được bảo quản khá tốt, nhìn giống như một nhà máy nhỏ. Bến cảng đã bị cát bít lại từ lâu được một đê chắn đá cổ bao quanh; và trên đó tôi bắt đầu có thể nhận ra hình dạng tí hon của vài ngư dân đang ngồi, ở phía cuối đê là thứ trông giống như nền móng của một ngọn hải đăng cũ. Một lưỡi cát đã liếm vào bên trong hàng rào này, trên đó tôi thấy một vài cabin tồi tàn, thuyền đánh cá neo đậu, và những chậu tôm hùm rải rác. Vùng nước sâu duy nhất dường như là nơi dòng sông tuôn ra quá chỗ tòa nhà có tháp chuông và quay về hướng Nam để hòa vào với đại dương ở cuối đê chắn sóng.
Đó đây, tàn tích của các cầu cảng nhô ra khỏi bờ biển để rồi rốt cuộc rơi vào miền suy tàn vô định, những cầu xa nhất về phía Nam có vẻ là sa sút trầm trọng nhất. Và xa xa trên biển, mặc dù thủy triều đang lên cao, tôi vẫn thoáng thấy một đường dài màu đen, chỉ hơi trồi lên khỏi mặt nước đôi chút, nhưng lại chứa đựng một vẻ thâm hiểm âm ỉ kì lạ. Tôi biết đây hẳn phải là Rạn Quỷ. Trong lúc tôi quan sát, dường như có một cảm giác vẫy gọi ngấm ngầm, kì khôi chất chồng kèm vào với sự ghê tởm dữ tợn. Và lạ lùng thay, tôi thấy cái xúc cảm họa âm này thậm chí còn đáng lo ngại hơn ấn tượng chính.
Chúng tôi không gặp ai trên đường, nhưng chẳng bao lâu sau đã bắt đầu băng qua các trang trại bỏ hoang, đổ nát theo nhiều mức khác nhau. Thế rồi tôi để ý thấy vài ngôi nhà có người ở với giẻ nhét trong các khung cửa sổ vỡ và vỏ sò cùng xác cá chết nằm vương vãi trên bãi rác. Một hay hai lần gì đó, tôi thấy vài người trông bơ phờ làm việc trong những khu vườn cằn cỗi hay đào nghêu trên bãi biển hôi tanh bên dưới, và mấy nhóm trẻ con bẩn thỉu, mặt mũi như vượn đang chơi đùa xung quanh những bậc cửa đầy cỏ dại. Không hiểu sao, đám dân này trông còn đáng sợ hơn những tòa nhà ảm đạm, bởi vì khuôn mặt và cách chuyển động của gần như tất cả bọn họ đều có một số điểm kỳ dị khiến tôi bất giác cảm thấy chán ghét, mặc dù không thể định nghĩa hoặc hiểu được. Tôi thoáng ngỡ tưởng cái vóc dáng điển hình này trông hao hao bức hình đậm chất kinh dị hoặc u sầu nào đó mà mình từng thấy, có lẽ trong một cuốn sách; nhưng cái hồi ức giả ấy tan biến rất mau chóng.
Khi xe buýt xuống đến chỗ thấp hơn, tôi bắt đầu nghe thấy cái tiếng đều đều của một thác nước giữa sự tĩnh lặng bất thường. Những ngôi nhà nghiêng ngả, không được sơn ngày càng san sát hơn ở cả hai bên đường, và mang nhiều nét đô thị hơn những gì chúng tôi đang bỏ lại phía sau. Bức tranh toàn cảnh phía trước đã co lại thành một cảnh phố xá, và ở đôi ba chỗ, tôi có thể thấy nơi trước đây từng có một vỉa hè lát đá cuội hay mấy đoạn vệ đường gạch. Tất cả các ngôi nhà xem chừng đều bị bỏ hoang, và thỉnh thoảng lại xuất hiện những khoảng trống với các ống khói và tường hầm xiêu vẹo, dấu hiệu của những tòa nhà đã sụp đổ. Thẩm thấu vào trong tất cả mọi thứ là mùi tanh hôi lợm mửa nhất trần đời.
Chẳng mấy chốc, những con đường giao nhau và ngã ba bắt đầu xuất hiện; những phố ở bên trái dẫn ra miền không được trải nhựa bẩn thỉu và suy tàn gần bờ biển, trong khi các con phố bên phải trưng ra những viễn cảnh về vẻ huy hoàng một thời. Cho đến nay, tôi chưa thấy ai trong thị trấn cả, nhưng bây giờ thì vài dấu hiệu của một khu dân cư thưa thớt đã xuất hiện - đó đây là một cửa sổ có rèm che, và thỉnh thoảng lại có một chiếc xe méo mó đỗ bên lề đường. Vỉa hè và vệ đường ngày càng được phân định rõ ràng, và mặc dù hầu hết các ngôi nhà đều khá cũ - toàn những công trình bằng gỗ và gạch xây trong giai đoạn đầu thế kỉ mười chín - chúng hiển nhiên vẫn được giữ cho phù hợp để sinh sống. Vì là một nhà khảo cổ học nghiệp dư, cảm giác phát tởm trước cái mùi cũng như nỗi hãi sợ và thù ghét của tôi suýt chút nữa thì biến mất giữa kho tàng cổ vật phong phú, nguyên bản còn sót lại từ quá khứ này.
Nhưng khi đến nơi, tôi vẫn không khỏi cảm thấy cực kỳ khó chịu. Chiếc xe buýt đã đi đến một mối giao thông hay tâm điểm thoáng đãng nào đó với các nhà thờ ở hai bên và tàn tích nhếch nhác của một không gian xanh tròn ở chính giữa, tôi bấy giờ đang nhìn vào một hội trường lớn với cột trụ đỡ ở ngã ba bên tay phải phía trước mặt. Tòa nhà một thời được sơn trắng giờ đã xám xịt và bong tróc, cái biển hiệu vàng đen trên trán tường đã phai mờ đến độ tôi phải chật vật lắm mới nhìn ra được dòng chữ “Bí Hội Dagon”. Thế thì đây hẳn phải là hội trường cũ của Hội Tam Điểm, nay đã bị trao cho một giáo phái trụy lạc. Trong khi đang căng mắt ra để giải mã dòng chữ này, tôi bị xao lãng bởi tiếng ông ổng của một chiếc chuông bị nứt phía bên kia đường, và tôi nhanh chóng quay người lại nhìn ra ngoài cửa sổ xe phía bên mình ngồi.
Âm thanh ấy phát ra từ một nhà thờ bằng đá với tháp chuông thấp, trông rõ ràng là lâu đời hơn hầu hết các ngôi nhà, được xây dựng theo phong cách Gothic vụng về và có một tầng hầm với các cửa sổ đóng kín, cao một cách mất cân xứng. Mặc dù ở phía tôi nhìn thì không thấy các kim đồng hồ đâu, tôi biết rằng những âm thanh khàn khàn đó đang báo mười một giờ. Nhưng rồi đột nhiên mọi suy nghĩ về thời gian bị xóa nhòa khi một hình ảnh ập đến, mãnh liệt tột độ và mang theo một nỗi kinh hoàng không thể lý giải được, xâm chiếm lấy tôi trước khi tôi kịp biết nó thực sự là gì. Cánh cửa tầng hầm nhà thờ đang để mở, để lộ một vùng đen ngòm hình chữ nhật bên trong. Và trong lúc tôi nhìn, một vật nào đó phóng ngang qua hoặc có vẻ phóng ngang qua hình chữ nhật tối kia; hằn in vào trong não tôi một ý niệm đầy ác mộng ngắn ngủi, và tôi càng cảm thấy điên rồ gấp bội bởi vì nếu đem nó ra mổ xẻ phân tích, ta sẽ không thấy nó có tí gì là ác mộng cả.
Đó là một vật thể sống - sinh vật sống đầu tiên bên cạnh tay lái xe mà tôi được thấy kể từ khi tiến vào khu nhà cửa chen chúc của thị trấn - và nếu lúc bấy giờ mà mang tâm trạng ổn định hơn, tôi sẽ chẳng thấy nó có gì là đáng sợ cả. Như về sau tôi nhận ra, đó rõ ràng là linh mục; mặc một thứ trang phục kì dị nào đấy mà hẳn đã được đem ra sử dụng kể từ khi Hội Dagon sửa đổi nghi thức của các nhà thờ quanh đây. Chắc thứ tôi đã vô thức liếc thấy lúc ban đầu đồng thời mang lại cảm giác hãi hùng quái đản cho tôi chính là chiếc vương miện cao mà ông ta đội - một bản sao gần như giống hệt thứ bà Tilton cho tôi xem tối hôm trước. Với sự trợ lực của trí tưởng tượng, điều này đã gán ghép những tố chất nham hiểm vô danh cho gương mặt mập mờ và tấm thân mặc áo choàng, lóng ngóng bên dưới nó. Tôi sớm rút ra quyết định rằng chẳng có bất kì lí do nào để mình phải bị tác động bởi cái kí ức phi thực xấu xa, nghĩ đến mà thấy rùng cả mình kia. Có gì lạ đâu khi một giáo phái bí ẩn tại địa phương tích hợp vào trong lễ phục của mình một kiểu phục trang đội đầu độc đáo vốn đã trở nên quen thuộc đối với cộng đồng thông qua một cách kỳ lạ nào đó - có thể là dưới dạng một kho báu?
Một nhóm rất nhỏ những người trẻ tuổi lác đác, diện mạo kinh tởm giờ đã xuất hiện trên các vỉa hè - hoặc là những cá nhân đi lẻ, hoặc là các nhóm hai hay ba trầm lặng. Các tầng dưới của những ngôi nhà đổ nát đôi khi chứa những hàng quán nhỏ trưng biển hiệu tồi tàn dơ dáy. Trên đường đi, tôi để ý thấy có một hoặc hai chiếc xe tải nằm đỗ. Tiếng thác nước ngày càng rõ rệt hơn, và chẳng bao lâu sau tôi thấy một hẻm sông khá sâu phía trước, với cây cầu cao tốc rộng, gắn lan can sắt bắc ngang, phía bên kia là một quảng trường lớn quang đãng. Khi chúng tôi lạch cạch băng qua cây cầu, tôi nhìn ra hai bên và quan sát một số tòa nhà công xưởng ở rìa con dốc cỏ hoặc hơi lấn xuống dốc. Bên dưới ngồn ngộn nước, và tôi có thể thấy hai dòng thác cuồn cuộn ở mạn thượng nguồn bên phải và ít nhất một dòng ở phía bên trái. Từ vị trí này, tiếng ồn nghe điếc cả tai. Sau đó, chúng tôi tiến vào quảng trường hình bán nguyệt lớn bên kia sông và đỗ lại ở bên phải phía trước một tòa nhà cao, có mái vòm với chút sơn vàng còn sót lại và một biển hiệu bị mờ phân nửa tuyên bố đấy là Nhà trọ Gilman.
Tôi lấy làm mừng khi được ra khỏi chiếc xe buýt đó, và ngay lập tức gửi va-li của mình trong cái sảnh tồi tàn của nhà trọ. Chỉ thấy bóng duy nhất một người - người đàn ông lớn tuổi không mang cái vẻ đã được tôi mệnh danh là “diện mạo Innsmouth” - và tôi quyết định không nhờ ông ta giải đáp bất kì câu gì mình đang thắc mắc; nhớ lại những điều kỳ lạ mình đã để ý thấy trong nhà trọ này. Thay vào đó, tôi bước ra ngoài quảng trường, nơi chiếc xe buýt bấy giờ đã rời đi, và nghiên cứu khung cảnh một cách tỉ mẩn và dò xét.
Một bên của vùng không gian mở lát đá cuội là dòng sông thẳng băng; bên kia là những tòa nhà gạch mái nghiêng giai đoạn 1800, xếp theo hình bán nguyệt, với một số tuyến phố tỏa về phía Đông Nam, Nam, và Tây Nam từ đó. Đèn đuốc hiếm và nhỏ đến nao lòng - tất cả đều là đèn sợi đốt công suất thấp - và tôi lấy làm mừng vì theo như kế hoạch, tôi sẽ khởi hành trước khi trời tối, mặc dù tôi biết rằng mặt trăng sẽ rất sáng. Các tòa nhà đều trong tình trạng khá tử tế, và có lẽ bao gồm cả tá cửa hàng đang hoạt động; trong số đó là một tiệm tạp hóa thuộc chuỗi First National, ngoài ra thì có một nhà hàng ảm đạm, một cửa hàng thuốc, và văn phòng giao dịch bán buôn cá. Bên cạnh đó, ở mạn cực Đông của quảng trường, chỗ gần bờ sông, có văn phòng đại diện cho công ty công nghiệp duy nhất của thị trấn - Công ty Tinh luyện Marsh. Có thể nhìn thấy tầm mười người, và khoảng bốn hoặc năm chiếc ô tô và xe tải đỗ rải rác. Không cần ai bảo thì tôi cũng biết rằng đây là trung tâm hành chính của Innsmouth. Về phía Đông, tôi có thể thấp thoáng nhìn thấy những mảng xanh của bến cảng, và hằn in trên đấy là tàn tích đổ nát của ba tháp chuông Georgia xinh đẹp một thời. Và về phía bờ biển, đoạn trên bờ đối diện của dòng sông, tôi thấy cái tháp chuông trắng vươn trên thứ tôi đoán là nhà máy luyện vàng Marsh.
Vì lí do gì đó, tôi quyết định tiến hành hỏi han bước đầu tại chỗ tiệm tạp hóa, nơi nhân sự khó có khả năng là người Innsmouth bản địa. Tôi tìm thấy duy nhất một cậu thanh niên khoảng mười bảy tuổi phụ trách cửa hàng, và sung sướng khi thấy vẻ tươi tỉnh và hòa nhã của cậu ta, hứa hẹn sẽ cung cấp cho mình những thông tin vui vẻ. Cậu ta có vẻ hết sức sẵn lòng nói chuyện, và tôi sớm nhận thấy rằng cậu ta không thích nơi này, mùi tanh của nó, hay đám dân lấm lét ở đây. Được nói chuyện với bất kì người ngoài nào cũng khiến cậu ta nhẹ nhõm cả người. Cậu ta xuất thân Arkham, trọ với một gia đình đến từ Ipswich, và quay trở về nhà bất cứ khi nào được nghỉ. Gia đình không thích cậu ta làm việc ở Innsmouth, nhưng công ty đã chuyển cậu ta đến đây và cậu ta không muốn từ bỏ công việc của mình.
Cậu ta nói không có thư viện công cộng hay phòng thương mại nào ở Innsmouth, nhưng tôi chắc sẽ có thể tự tìm được đường. Con phố tôi vừa đi dọc là Federal. Phía Tây của nó là những con phố dân cư tử tế lâu đời - Broad, Washington, Lafayette, và Adams - còn phía Đông là những khu ổ chuột ven bờ biển. Chính tại những khu ổ chuột này - dọc theo phố Main - tôi sẽ tìm thấy những nhà thờ Georgia cũ, nhưng tất cả đều bị bỏ hoang từ lâu. Hành xử một cách quá lộ liễu trong những khu phố như vậy sẽ chẳng khôn ngoan gì - đặc biệt là phía Bắc của dòng sông - vì đám dân ở đấy rất sưng sỉa và thù địch. Một số người lạ thậm chí đã mất tích.
Nhờ mấy bài học đắt giá, cậu nhân viên biết được rằng một số nơi gần như là khu cấm. Chẳng hạn, không ai được phép la cà lâu la xung quanh nhà máy luyện vàng Marsh, hoặc quanh bất kỳ nhà thờ nào vẫn còn đang được sử dụng, hay chỗ hội trường đầy trụ cột của Hội Dagon ở New Church Green. Những nhà thờ đó rất kì quặc - tất cả đều bị các giáo phái tương ứng của mình tại những nơi khác kiên quyết chối bỏ, và có vẻ áp dụng các kiểu nghi lễ cũng như lễ phục giáo sĩ hết sức kỳ quặc. Tín điều của chúng vừa không chính thống lại vừa bí ẩn, có bóng gió ám chỉ đến một số sự biến đổi thần kỳ, giúp đạt được sự bất tử về thân xác tại dương thế - hay một kiểu bất tử nào đó. Linh mục của chính cậu ta - bác sĩ Wallace tại Nhà thờ Giáo hội Giám lý Asbury ở Arkham - đã khẩn khoản khuyên can cậu ta chớ tham gia bất kỳ nhà thờ nào ở Innsmouth.
Về phần những người dân ở Innsmouth thì cậu thanh niên gần như chẳng biết phải nghĩ sao về họ. Họ lấm lét và hiếm khi lộ mặt, chẳng khác nào thú vật sống trong hang, và khó lòng mà mường tượng nổi họ có thú tiêu khiển nào khác ngoài việc câu cá lung tung. Căn cứ vào lượng rượu lậu mà đám dân cư nốc, có thể họ nằm đờ đẫn vì say xỉn gần như cả ngày. Họ xem chừng cứ sưng sỉa tụ lại với nhau với sự đoàn kết và thấu hiểu gì đó - coi thường thế giới như thể họ có thể tiếp cận miền thực thể nào khác thích hợp hơn. Diện mạo của họ - đặc biệt là những cặp mắt nhìn chằm chằm, không chớp mà chẳng ai thấy nhắm bao giờ - thừa sức gây sững sờ; và giọng nói của họ thật kinh tởm. Thật kinh khủng khi nghe tiếng họ tụng kinh trong các nhà thờ vào ban đêm, đặc biệt là trong các lễ hội hoặc những cuộc phục hồi đức tin chính của họ, diễn ra mỗi năm hai lần vào ngày 30 tháng Tư và ngày 31 tháng Mười.
Họ rất thích nước, và bơi lội nhiều vô cùng ở cả sông lẫn bến cảng. Các cuộc đua bơi ra Rạn Quỷ thường xuyên được tổ chức, và thiên hạ ai nấy dường như đều có thể tham gia môn thể thao khó nhọc này. Nếu ngẫm kĩ, ta sẽ nhận thấy rằng nhìn chung thì chỉ người trẻ tuổi mới chường mặt ra những nơi công cộng, và trong số những người ấy, đám lớn tuổi nhất thường sẽ có vẻ ngoài nhơ nhuốc nhất. Nếu có trường hợp ngoại lệ nào thì chủ yếu cũng toàn là những người không hề có chút nét dị thường gì, giống như ông nhân viên già tại nhà trọ. Ta sẽ không khỏi tò mò về số phận của phần lớn những cư dân lớn tuổi, và liệu cái “diện mạo Innsmouth” có phải là một chứng bệnh kỳ lạ và quỷ quyệt, càng về già thì càng trầm kha hay không.
Tất nhiên, chỉ một chứng bệnh cực kỳ hiếm gặp mới đủ sức khiến cho cấu trúc giải phẫu của một cá nhân bị thay đổi nghiêm trọng và triệt để đến vậy sau khi trưởng thành - với các thay đổi bao gồm những nhân tố cơ bản về xương như hình dạng của hộp sọ - nhưng nhìn tổng thể thì ngay cả những đặc điểm hữu hình khác của căn bệnh đó cũng khó hiểu và chưa từng được nghe đến chẳng kém gì khía cạnh ấy. Cậu thanh niên nói rằng sẽ khó lòng đưa ra nổi bất kỳ kết luận thực sự nào về chuyện này; vì không ai từng thân quen được với người bản địa, cho dù có sống ở Innsmouth lâu đến mấy.
Cậu thanh niên tin chắc rằng ở một số nơi, họ nhốt trong nhà nhiều người thậm chí còn tồi tệ hơn cả những kẻ xấu nhất xuất hiện ngoài đường. Người ta đôi khi còn nghe thấy những âm thanh kỳ quặc vô cùng. Theo lời đồn thì các lều lán lụp xụp bên khu ven biển mạn phía Bắc của dòng sông được kết nối bởi các đường hầm bí ẩn, và chính thế mà nó hệt như một cái động chứa đầy những sự dị thường đích thực. Không thể nào đoán định được đám người này sở hữu dòng máu ngoại tộc nào - nếu họ quả đúng là dân lai. Đôi khi họ giấu biến một số nhân vật đặc biệt gớm guốc khi các quan chức chính phủ cũng như những người từ thế giới bên ngoài đến thị trấn.
Người cung cấp thông tin của tôi bảo rằng hỏi han dân bản địa bất cứ điều gì về nơi này cũng sẽ chỉ công cốc mà thôi. Người duy nhất chịu mở miệng là một lão già khú đế nhưng diện mạo bình thường, sống ở nhà tình thương bên rìa phía Bắc thị trấn và suốt ngày đi lang thang hay lởn vởn quanh trạm cứu hỏa. Nhân vật già nua này là Zadok Allen, đã chín mươi sáu tuổi, đầu óc hơi có vấn đề, và còn là bợm nhậu có tiếng của thị trấn. Lão là một người kỳ lạ, lấm lét, liên tục nhìn ra sau vai như thể sợ hãi điều gì đó, và khi tỉnh táo thì dứt khoát không chịu nói chuyện với bất cứ người lạ nào. Tuy nhiên, nếu đem thứ chất độc yêu thích của lão ra nhử thì lão sẽ không tài nào cưỡng lại nổi; và một khi say rồi thì lão sẽ tiết lộ những mảng hồi ức đáng kinh ngạc tột độ.
Tuy nhiên, rốt cuộc thì ta cũng sẽ chẳng thể thu được nhiều thông tin hữu ích từ lão; bởi tất cả các câu chuyện của lão đều là những lời bóng gió điên rồ, không đầy đủ về những phép lạ bất khả thi cũng như những nỗi kinh hoàng chắc chắn chỉ có thể bắt nguồn từ các mộng tưởng rối loạn của chính lão. Không ai tin lão hết, nhưng đám dân bản địa không thích để cho lão uống rượu rồi nói chuyện với người lạ; và để người khác nhìn thấy mình hỏi chuyện lão thì không phải lúc nào cũng an toàn. Chắc những lời đồn đại và ảo tưởng hoang đường nhất thiên hạ vẫn hay rỉ tai nhau chính từ lão mà ra.
Thỉnh thoảng, có một số cư dân không phải dân bản địa bảo rằng mình trông thấy những thứ quái đản, nhưng với mấy câu chuyện của lão Zadok và các cư dân dị dạng nơi đây, việc những ảo tưởng như vậy xuất hiện nhiều không có gì là lạ cả. Chẳng người không phải dân bản địa nào ở ngoài đường vào lúc đêm hôm khuya khoắt, bởi lẽ hầu hết mọi người đều có ấn tượng rằng làm như vậy là không khôn ngoan. Mà ngoài ra, đường phố tối tăm đến ghê tởm.
Về phần công ăn việc làm - lượng cá tôm dồi dào nơi đây quả thật khá kỳ quái, nhưng đám dân bản địa ngày càng ít tận dụng lợi thế đó. Thêm nữa, giá cả đang trên đà tụt giảm và cạnh tranh càng lúc càng gay gắt. Tất nhiên, hoạt động kinh doanh thực sự của thị trấn là nhà máy luyện vàng, với văn phòng thương vụ nằm ngay trên quảng trường, chỉ cách nơi chúng tôi đứng một vài nhà về phía Đông. Không ai từng thấy mặt Lão Khọm Marsh cả, nhưng đôi khi lão đi đến nhà máy trong một chiếc xe quây rèm kín mít.
Có đủ loại tin đồn về việc ngoại hình lão Marsh ngày nay đã trở thành như thế nào. Lão từng là một người rất bảnh bao, và thiên hạ nói lão vẫn mặc bộ áo choàng sang trọng thời Edward, được chỉnh sửa lạ thường cho phù hợp với một số dị tật nhất định. Con trai lão trước đây từng điều hành văn phòng tại quảng trường, nhưng dạo gần đây họ chủ yếu toàn ẩn thân và giao phó phần lớn công việc cho thế hệ trẻ. Đám con trai và chị em của họ đã trông rất kỳ quái, đặc biệt là những người lớn tuổi; và theo lời đồn thì sức khỏe của họ đang trên đà đi xuống.
Trong số những cô con gái nhà Marsh có một mụ đàn bà với diện mạo phát tởm, hệt như bò sát, đeo hàng đống đồ trang sức kì lạ với phong cách ngoại lai thấy rõ, chẳng khác nào cái vương miện kỳ lạ. Người cấp tin của tôi đã nhiều lần để ý thấy điều đó, và nghe đồn rằng những món đồ ấy đến từ một kho tàng bí mật nào đấy, hoặc là của cướp biển, hoặc là của quái vật. Các giáo sĩ - hay các linh mục, hoặc bất cứ tước danh gì mà ngày nay họ sử dụng - cũng dùng kiểu trang sức ấy làm đồ đội đầu; nhưng người ta hiếm khi trông thấy họ. Cậu thanh niên chưa thấy món nào khác nữa cả, mặc dù theo lời đồn thổi thì có rất nhiều món như thế tồn tại quanh Innsmouth.
Gia đình Marsh, cùng với ba gia đình quý tộc khác của thị trấn - nhà Waite, nhà Gilman, và nhà Eliot - đều rất kín đáo. Họ sống trong những ngôi nhà cao cửa rộng trên phố Washington, và theo lời đồn, có mấy gia đình đang lén chứa chấp một số người họ hàng hiện vẫn còn sống dù đã được thông báo cũng như ghi trên giấy tờ là đã mất, với ngoại hình không thể cho thiên hạ thấy được.
Sau khi cảnh báo tôi rằng nhiều biển báo đường đã bị hỏng, cậu thanh niên vẽ cho tôi một bản đồ các đặc điểm nổi bật của thị trấn, chỉ là phác thô thôi nhưng rất đầy đủ và tỉ mỉ. Sau khi nhìn qua, tôi tin chắc nó sẽ rất hữu ích, vừa bỏ nó vào trong túi vừa cảm ơn rối rít. Vì không thích cái vẻ dơ dáy của nhà hàng duy nhất mình đã thấy, tôi mua lượng lớn bánh quy phô mai và bánh xốp gừng để lát sau ăn trưa. Tôi quyết định rằng kế hoạch của mình sẽ là len lỏi qua các đường phố chính, nói chuyện với bất kỳ ai không phải dân bản địa mình gặp được, và bắt chuyến xe tám giờ đi Arkham. Tôi có thể thấy thị trấn đã trở thành một ví dụ đầy ý nghĩa và cường điệu cho hiện tượng xuống cấp của cộng đồng; nhưng vì không phải là nhà xã hội học, tôi sẽ giới hạn những nhận định nghiêm túc của mình trong lĩnh vực kiến trúc.
Thế là tôi bắt đầu thực hiện chuyến tham quan quy củ dù phần nào hoang mang qua những con đường hẹp, tối tăm của Innsmouth. Băng qua cây cầu và quay về phía tiếng gầm rú của thác hạ lưu, tôi đi qua gần nhà máy luyện vàng Marsh, xem chừng vắng bóng những âm thanh công nghiệp đến lạ. Tòa nhà này nằm trên bờ sông dốc đứng, gần chỗ một cây cầu và ngã ba đường thoáng đãng mà tôi đoán là trung tâm hành chính thời đầu, bị quảng trường thị trấn hiện tại chiếm chỗ sau cuộc Cách mạng.
Sau khi lại băng qua hẻm sông trên cây cầu phố Main, tôi ra đến một vùng hoang vu tột bậc, không hiểu sao khiến cho tôi rùng cả mình. Những cụm mái nhà hai mảng đổ nát tạo thành một đường chân trời lởm chởm và huyền hoặc, với bên trên là tháp chuông ma quái, cụt đầu của một nhà thờ cổ. Một số ngôi nhà dọc phố Main có người ở, nhưng hầu hết đều bị đóng ván kín bưng. Dọc những con ngõ không trải nhựa, tôi nhìn thấy những ổ cửa sổ đen ngòm, mở toang hoang của những căn nhà tồi tàn bỏ hoang, với nhiều nhà bị phần móng sụt lún làm cho nghiêng đi theo những góc nguy hiểm phi thường. Những cửa sổ đó nhìn ma mị đến nỗi phải can đảm lắm thì mới dám quay sang hướng Đông, tiến về phía bờ biển. Chắc chắn một điều là nỗi kinh hoàng mà một ngôi nhà bỏ hoang mang lại tăng tiến theo dạng hình học chứ không phải số học khi lượng nhà dần phình ra, hợp thành một thành phố hiu quạnh tột cùng. Cảnh tượng những cung đường mắt cá bất tận, đầy sự trống rỗng và chết chóc, cùng với suy nghĩ về mạng lưới những gian phòng đen tối, u sầu không hồi kết, được nhượng lại cho mạng nhện và kí ức và sâu mọt, khơi dậy những nỗi sợ hãi và ác cảm dư tàn mà ngay cả triết lý vững chắc nhất cũng không thể xua tan.
Phố Fish cũng vắng vẻ như Main, mặc dù nó khác biệt ở chỗ có nhiều nhà kho gạch đá vẫn còn trong tình trạng tốt. Phố Water gần như là bản sao của Fish, ngoại trừ việc tại nơi từng có cầu cảng thì nay lại là những khoảng trống lớn hướng ra biển. Tôi không thấy bất kì sinh vật sống nào, trừ một số ngư dân lác đác trên đê chắn sóng ngoài xa, và tôi không nghe thấy âm thanh gì ngoài tiếng vỗ dào dạt của nước triều ngoài bến cảng và tiếng ầm ầm của dòng thác trong sông Manuxet. Thị trấn đang càng lúc khiến tôi căng thẳng hơn, tôi lấm lét nhìn ra phía sau mình trong khi lần mò quay trở lại qua cây cầu lung lay ở phố Water. Theo tấm bản đồ phác, cây cầu phố Fish đã bị hủy hoại rồi.
Ở mạn phía Bắc dòng sông, dấu tích của cuộc sống dơ dáy xuất hiện - những ngôi nhà đóng gói cá đang hoạt động ở phố Water, ống khói bốc khói và mái nhà được sang sửa đó đây, thỉnh thoảng lại có âm thanh phát ra từ những nơi vô định, những hình hài hiếm hoi lê bước trên các con phố thê lương và những làn đường không trải nhựa - nhưng tôi dường như lại thấy điều này thậm chí còn làm mình cảm thấy ngột hơn miền hoang vắng phía Nam. Nguyên nhân là bởi dân tình trông gớm ghiếc và bất thường hơn những người ở gần trung tâm thị trấn; mấy lần gợi cho tôi nhớ đến thứ tà ác hoàn toàn phi thực nào đó mà mình không thể nêu đích danh được. Không còn nghi ngờ gì nữa, đám dân Innsmouth ở đây mang nhiều máu ngoại tộc hơn với những người ở sâu trong đất liền - tất nhiên trừ khi cái “diện mạo Innsmouth” là một căn bệnh chứ không phải là huyết thống, và trong trường hợp ấy thì khu này có thể là nơi chứa những ca bệnh nặng hơn.
Một tình tiết khiến tôi cảm thấy khó chịu là cách phân bố một số âm thanh mờ nhạt mình nghe thấy. Đáng lẽ tất cả đều phải phát ra từ những ngôi nhà trông rõ là có người ở, ấy nhưng trên thực tế, chúng thường xuyên vang lên ồn ã nhất từ đằng sau những mặt tiền bị bít ván kín mít nhất. Có tiếng cót két, sột soạt, cùng những tiếng động khàn khàn đáng ngờ; và tôi lo lắng nghĩ về những đường hầm bí mật mà cậu bán tạp hóa đã nhắc đến. Đột nhiên tôi cảm thấy băn khoăn muốn biết giọng nói của những người đó nghe như thế nào. Tính đến nay, tôi chưa nghe thấy ai trong khu này nói năng gì, và khó hiểu thay, tôi lại cứ muốn không phải nghe giọng ai hết.
Sau khi tạm dừng chỉ đủ lâu để nhìn ngắm hai nhà thờ cổ đẹp nhưng đổ nát ở phố Main và phố Church, tôi vội vã rời khỏi khu ổ chuột tồi tàn bên bờ biển đó. Điểm đến hợp lí tiếp theo của tôi là New Church Green, nhưng vì lý do nào đấy, tôi không dám đi qua chỗ nhà thờ nơi mình từng trông thấy hình bóng đáng sợ khó hiểu của vị mục sư hay linh mục đội mũ miện kỳ lạ trong tầng hầm. Với cả, cậu bán tạp hóa đã nói với tôi rằng các nhà thờ cũng như hội trường Hội Dagon không phải là khu người lạ nên bén mảng đến.
Bởi thế nên tôi đi theo hướng Bắc, dọc theo Main và vào Martin, sau đó rẽ vào sâu trong đất liền, an toàn băng qua phố Federal phía Bắc, và đi vào khu quý tộc suy tàn bao gồm các phố Broad, Washington, Lafayette, và Adams ở mạn Bắc. Mặc dù những đại lộ cổ kính này trông vẻ ngoài rất xấu xí và luộm thuộm, vẻ trang nghiêm rợp bóng cây du của chúng vẫn chưa mất đi hoàn toàn. Hết biệt thự này đến biệt thự khác hút lấy ánh mắt của tôi, hầu hết đều đổ nát và bít ván kín bưng giữa những khu đất không được ai ngó ngàng, nhưng mỗi phố đều có một hoặc hai căn có dấu hiệu có người ở. Tại phố Washington có một hàng bốn hoặc năm nhà đã được sang sửa rất tử tế với những bãi cỏ và vườn được chăm sóc cẩn thận. Tôi đoán ngôi nhà xa hoa nhất trong số đó - với những sân đất nền cao rộng rãi, đặt đầy bồn hoa, trải dài đến tận phố Lafayette - là nhà của Lão Khọm Marsh, chủ nhà máy luyện vàng mắc bệnh.
Không thấy tăm hơi bất kì sinh vật sống nào trong tất cả các con phố này, và tôi lấy làm tò mò trước sự vắng bóng của chó mèo tại Innsmouth. Một điều nữa làm tôi cảm thấy khó hiểu và bất an, ngay cả trong những biệt thự được lưu giữ tử tế nhất, là cảnh rất nhiều cửa sổ tầng ba và tầng áp mái bị đóng kín bưng. Lén lút và kín tiếng dường như là tính chất chung của cái thành phố tĩnh lặng đầy ngoại lai và chết chóc này, và tôi không thể rũ bỏ cảm giác bị rình rập theo dõi từ mọi hướng bởi những cặp mắt quỷ quyệt, trợn trừng, không bao giờ nhắm lại.
Tôi rùng mình khi tiếng chuông dị hợm điểm ba giờ vang lên từ một tháp chuông bên trái. Tôi nhớ rất rõ cái nhà thờ lùn bè, nơi những âm thanh đó phát ra. Đi xuôi phố Washington về phía dòng sông, tôi giờ đã được mặt đối mặt với một khu vực mới, từng là chốn của công nghiệp và thương buôn. Nói vậy là bởi tôi trông thấy những tàn tích của một nhà máy phía trước, và thấy thêm vài nhà máy khác nữa, với các dấu tích của nhà ga cũ và cây cầu đường sắt có mái che đằng sau chúng, ở mạn trên hẻm sông bên phải mình.
Cây cầu bấp bênh bấy giờ đang nằm trước mặt tôi có cắm tấm biển cảnh báo, nhưng tôi đánh liều và một lần nữa băng qua nó để sang phía bờ phía Nam, nơi các dấu hiệu của sự sống lại xuất hiện. Những sinh vật lấm la lấm lét, bước đi lóng ngóng nhìn chằm chằm về phía tôi đầy bí hiểm, trong khi những khuôn mặt bình thường hơn nhìn tôi đầy lạnh lùng và tò mò. Innsmouth đang nhanh chóng trở nên ngoài sức chịu đựng, và tôi rẽ xuống phố Paine, tiến về phía quảng trường với hy vọng sẽ tìm được một chiếc xe đưa mình đến Arkham trước thời điểm khởi hành hãy còn lâu nữa mới đến của chuyến xe buýt ám muội kia.
Đúng lúc ấy, tôi nhìn thấy trạm cứu hỏa xiêu vẹo bên tay trái, và để ý thấy một ông già mặt đỏ găng, râu rậm, mắt ngấn nước, khoác trên mình bộ đồ rách rưới không có gì nổi bật, ngồi tại băng ghế phía trước trạm, nói chuyện với hai người lính cứu hỏa luộm thuộm nhưng diện mạo không đến nỗi bất bình thường. Tất nhiên, đây hẳn phải là Zadok Allen, lão bợm nhậu nửa rồ nửa dại, nắm giữ những câu chuyện hết sức gớm guốc và khó tin về Innsmouth xưa cũ cùng sự hắc ám của nó.
- III -
Hẳn là một tên tiểu yêu suy đồi - hay một sự lôi kéo đầy nhạo báng khởi nguồn từ chốn tăm tối, bí ẩn nào đấy - đã khiến tôi thay đổi kế hoạch. Tôi quyết tâm từ trước là sẽ chỉ giới hạn các quan sát của mình trong lĩnh vực kiến trúc, và lúc bấy giờ, tôi thậm chí còn đang vội vã tiến về quảng trường nhằm kiếm xe để nhanh chóng ra khỏi cái thị trấn thối rữa, đầy chết chóc và suy tàn này; nhưng khi trông thấy lão Zadok Allen, những dòng suy nghĩ mới xuất hiện trong tâm trí và khiến tôi do dự chững bước lại.
Tôi đã được cam đoan rằng lão Zadok chẳng làm nổi trò trống gì khác ngoài ám chỉ về những truyền thuyết điên rồ, rời rạc, và khó tin, cũng như được cảnh báo rằng nếu bị đám dân bản địa nhìn thấy nói chuyện với lão thì tôi sẽ không an toàn. Ấy nhưng lão nhân chứng từng trải nghiệm sự suy tàn của thị trấn, sở hữu các kí ức có từ những ngày đầu với bao tàu thuyền và nhà máy, là một cám dỗ mà không lí trí nào có thể khiến tôi cưỡng lại nổi. Xét cho cùng, những huyền thoại kì lạ và điên rồ nhất thường chỉ đơn thuần là các biểu tượng hoặc câu chuyện ngụ ngôn dựa trên sự thật - và lão Zadok hẳn đã chứng kiến tất cả mọi thứ từng diễn ra tại Innsmouth trong quãng chín mươi năm qua. Óc tò mò bùng lên, lấn át cả lý trí cũng như sự thận trọng, và với sự tự cao tự đại của tuổi trẻ, tôi đinh ninh mình sẽ có thể sàng lọc ra được một chút lịch sử thật từ mớ thông tin rối rắm, hoang đường bản thân chắc sẽ thu được với sự trợ giúp của rượu whisky nguyên chất.
Tôi biết rằng mình không thể gạ gẫm lão ngay tại đó, vì mấy người lính cứu hỏa chắc chắn sẽ để ý và lên tiếng phản đối. Tôi thầm nghĩ rằng thay vào đó, mình sẽ kiếm ít rượu lậu ở nơi cậu nhân viên tạp hóa đã nói với tôi rằng có bán rất nhiều. Sau đó tôi sẽ đi tha thẩn gần trạm cứu hỏa với vẻ thản nhiên, và bắt chuyện với lão Zadok sau khi lão đã bắt đầu phun ra một trong những tràng lảm nhảm của mình. Cậu thanh niên nói rằng lão luôn đứng ngồi không yên, hiếm khi lảng vảng quanh trạm quá một hoặc hai tiếng mỗi lần.
Tôi dễ dàng kiếm được một chai rượu whisky khoảng gần lít, dù với mức giá không hề rẻ, ở phía sau của một cửa hàng tạp hóa tồi tàn trên phố Eliot, ngay gần quảng trường. Cái tay phục vụ tôi với vẻ ngoài bẩn thỉu hơi mang “diện mạo Innsmouth”, cặp mắt trợn trừng, nhưng lại hành xử khá lịch thiệp; có lẽ đã quen với lề thói của những người lạ mặt xởi lởi - tài xế xe tải, dân mua vàng, và những người tương tự khác - thỉnh thoảng vẫn ghé thị trấn.
Khi quay trở lại quảng trường, tôi thấy rằng may mắn đã mỉm cười với mình; bởi vì - lúc lê bước ra khỏi phố Paine, đoạn quanh góc Nhà trọ Gilman - tôi nhìn thấy chính cái dáng người cao ráo, gầy gò, rách rưới của lão Zadok Allen. Theo đúng kế hoạch của mình, tôi thu hút sự chú ý của lão bằng cách phô ra cái chai rượu mới mua; và chẳng mấy chốc mà nhận ra rằng lão đã bắt đầu thèm thuồng lê bước theo mình khi tôi rẽ vào phố Waite trên đường đến khu vực vắng vẻ nhất mà tôi có thể nghĩ ra được.
Tôi bấy giờ lựa đường bằng tấm bản đồ mà cậu bán tạp hóa đã chuẩn bị cho, và đang tiến về phía đoạn ven biển bị bỏ hoang hoàn toàn phía Nam mà ban nãy đã ghé thăm. Những người duy nhất trong tầm mắt là đám ngư dân trên con đê chắn sóng xa xôi; và nếu đi thêm một vài dãy nhà về phía Nam, tôi sẽ có thể đi khuất mắt nốt cả những người này, tìm một cặp ghế trên cầu tàu bị bỏ hoang nào đó và tha hồ hỏi han lão Zadok mà không bị soi mói suốt một hồi lâu. Trước khi đến phố Main, tôi có thể nghe thấy một tiếng “Ê, cậu kia!” khẽ và khò khè đằng sau mình, và chẳng bao lâu sau, tôi đã để lão bắt kịp mình và uống ừng ực những ngụm lớn từ cái chai.
Tôi bắt đầu ướm hỏi mấy câu thăm dò trong khi đi dọc phố Water và rẽ về phía Nam giữa bốn bề hoang vắng với những tàn tích nghiêng ngả điên cuồng, nhưng phát hiện ra rằng miệng lưỡi lão già không nới lỏng nhanh như mình mong đợi. Một hồi sau, tôi trông thấy một khoảng trống bị cỏ mọc đầy dẫn thẳng ra biển giữa những bức tường gạch đổ nát, với một đoạn cầu tàu làm bằng đất và đá, trên mọc đầy cỏ dại, nhô thẳng ra ngoài. Mấy đống đá bị rêu phủ kín gần mép nước hứa hẹn sẽ làm ghế ngồi chấp nhận được, và khu này được một nhà kho đổ nát ở mạn Bắc che chắn khỏi mọi ánh nhìn. Tôi thầm nghĩ đây là nơi lý tưởng cho một cuộc hội đàm bí mật dông dài; thế nên tôi dẫn người bạn đồng hành của mình đi dọc làn đường và chọn chỗ ngồi giữa những tảng đá rêu phong. Bầu không khí chết chóc và hoang vu thật ghê gớm, mùi cá gần như không thể chịu đựng nổi; nhưng tôi quyết tâm không để điều gì ngăn cản mình.
Vẫn còn khoảng bốn giờ để trò chuyện nếu tôi muốn bắt chiếc xe khách đi Arkham lúc tám giờ, và tôi bắt đầu chuốc thêm cho lão nghiện rượu già khú đế này; đồng thời tranh thủ ăn luôn bữa trưa thanh đạm của mình. Vừa chuốc rượu tôi vừa cẩn thận không làm quá đà, vì tôi không muốn trạng thái ba hoa sặc hơi men của lão Zadok trở thành cơn say bí tỉ. Sau một tiếng, sự lầm lì đầy lấm lét của lão bắt đầu có dấu hiệu biến mất, nhưng đáng thất vọng thay, lão vẫn lảng tránh những câu hỏi của tôi về Innsmouth và quá khứ đen tối của nơi này. Lão lảm nhảm về các chủ đề đương thời, cho thấy mình rất chăm đọc báo và hay có thói nói chuyện triết lý dạy đời theo kiểu quê mùa.
Lúc gần hết giờ đồng hồ thứ hai, tôi sợ rằng chỗ rượu whisky của mình sẽ không đủ để mang lại kết quả gì, và tự hỏi liệu có nên rời lão Zadok và quay trở lại lấy thêm không. Tuy nhiên, ngay lúc đó, trời đã run rủi mở cho tôi thời cơ, điều mà toàn bộ màn hỏi han của tôi không thể thực hiện được; những lời lảm nhảm khò khè của lão già xoay chuyển khiến tôi phải rướn tới trước và dỏng tai nghe ngóng. Lưng tôi quay về phía vùng biển tanh tưởi, nhưng lão thì lại đang nhìn về hướng nó, và một thứ gì đó đã khiến ánh mắt vơ vẩn của lão nhìn vào cái lằn thấp, xa xôi của Rạn Quỷ, sau đó trồi lên trên những con sóng một cách rõ ràng và khá hớp hồn. Cảnh tượng ấy dường như làm lão khó chịu, bởi vì lão bắt đầu xổ ra một chuỗi những lời chửi rủa yếu ớt, chốt lại với một lời thì thầm khẽ và ánh liếc đầy ngụ ý. Lão cúi người về phía tôi, túm lấy vạt áo của tôi, và rít lên một số lời không thể lẫn vào đâu được.
“Đó chính là nơi tất cả bắt đầu - cái chốn đáng nguyền rủa nơi tất cả những thứ xấu xa dưới làn nước sâu bắt đầu. Cổng dẫn xuống địa ngục - rơi thẳng xuống một cái đáy không dây dò nào chạm được đến cả. Lão Thuyền trưởng Obed đã làm chuyện ấy - lão đã phát hiện ra quá nhiều thứ tại các quần đảo Nam Thái Bình Dương.
“Dạo đó tất cả mọi người đều không gặp vận. Buôn bán thất bát, nhà máy không còn ai thuê - ngay cả mấy nhà máy mới - và những người tử tế nhất trong số cánh đàn ông của bọn tui bị giết trên tàu lùng trong Chiến tranh năm 1812 hay thiệt mạng cùng với thuyền Elizy và Ranger - cả hai đều là của Gilman. Obed Marsh có ba thuyền dùng được - Columby, Hetty, và thuyền buồm Sumatry Queen. Lão là người duy nhất làm tiếp tục trao đổi buôn bán với Đông Ấn và Thái Bình Dương, mặc dù thuyền Malay Pride của Esdras Martin tận năm 28 vẫn ra khơi.
“Chẳng ai thích Thuyền trưởng Obed cả. Tay chân của quỷ Satan! He, he! Tui vẫn nhớ lão kể về những vùng miền xa xăm, và nói tất cả mọi người đều là lũ ngu xuẩn vì cứ đi dự những buổi gặp mặt Cơ Đốc giáo và cam chịu mang vác gánh nặng của mình một cách thấp hèn. Nói họ cần phải kiếm những vị Chúa tử tế hơn giống đám dân ở Ấn Độ - những vị sẽ mang hàng đống cá tôm đến để đổi lấy sự hi sinh của họ, và thực sự đáp trả những lời cầu nguyện của chúng sinh.
“Matt Eliot, thuyền phó thứ nhất của lão, cũng nói rất nhiều, chỉ mình ông ta là không muốn bà con làm bất kỳ trò gì ngoại đạo. Nhắc đến một hòn đảo ở phía Đông Otaheité có rất nhiều phế tích đá cổ xưa hơn những gì bất cứ ai từng biết, giống như mấy phế tích trên Ponape, ở quần đảo Caroline ấy, nhưng với khuôn mặt điêu khắc trông giống như những bức tượng lớn trên Đảo Phục Sinh. Cũng có một hòn đảo núi lửa nhỏ gần đó, có những tàn tích khác với các bức tượng kiểu khác - tất cả đều bị bào mòn như thể từng có thời chìm dưới biển, và phủ khắp trên đó là những bức hình quái vật khủng khiếp.
“Này nhớ, Matt bảo đám dân quanh đó chẳng thiếu gì cá tôm, tha hồ đánh bắt, rồi đeo vòng, băng tay và đồ đội đầu làm từ một loại vàng kỳ quái với phủ đầy hình quái vật, giống hệt những thứ được khắc trên mớ tàn tích tại hòn đảo nhỏ - kiểu ếch trông như cá hay cá trông như ếch gì đó được vẽ trong đủ kiểu tư thế như thể chúng là con người. Không ai dụ được đám đó tiết lộ tụi nó kiếm đâu ra mấy món đồ, và tất cả những người bản địa khác đều thắc mắc rằng làm thế nào mà tụi đấy bắt được lắm cá thế trong khi ngay mấy hòn đảo bên cạnh thôi cũng đã chẳng có gì nhiều nhặn rồi. Matt cũng thắc mắc như thế, và cả Thuyền trưởng Obed cũng vậy. Với cả, Obed để ý thấy rằng hết năm này sang năm khác, rất nhiều thanh niên trẻ đẹp sẽ vĩnh viễn biến mất, và ở đấy không có nhiều người già. Lão cũng nghĩ rằng một số người trông kì quái ghê hồn, ngay cả đối với dân Kanak.
“Phải nhờ có Obed thì sự thật về đám dân ngoại đạo ấy mới được moi ra. Tui không biết lão làm kiểu gì, nhưng lão bắt đầu bằng cách trao đổi lấy những thứ giống như vàng mà tụi nó đeo. Hỏi tụi nó xem mấy thứ đó đến từ đâu, liệu chúng có thể kiếm thêm không, và cuối cùng moi được câu chuyện về lão tù trưởng già - tụi bản địa gọi lão đấy là Walakea. Không ai ngoài Obed chịu tin lão già quái quỷ ấy, nhưng lão Thuyền trưởng có thể nhìn thấu người khác như đi guốc trong bụng họ. He, he! Giờ thì chẳng có ai tin tui khi tui kể lại, tui đoán cậu cũng sẽ không tin đâu, anh bạn trẻ - dù nếu quan sát kĩ, cậu cũng có cái kiểu mắt sắc sảo như Obed đấy.”
Lời thì thầm của lão già trở nên khẽ khàng hơn, và tôi thấy rùng mình trước sự u ám khủng khiếp và chân thành trong ngữ điệu của lão, cho dù tôi biết câu chuyện của lão không gì hơn một ảo tưởng say xỉn.
“Cậu này, Obed phát hiện ra rằng trên đời có những thứ hầu hết mọi người chưa bao giờ hay biết đến - và sẽ không tin kể cả nếu được biết. Có vẻ lũ dân Kanak kia đã hi sinh hàng đống trai gái trẻ của mình cho thứ thần thánh gì đó sống dưới biển, và được nhận lại đủ kiểu ân huệ. Tụi nó gặp mấy sinh vật kia trên hòn đảo nhỏ với mớ tàn tích kỳ quái, và có vẻ như mấy bức ảnh quái vật cá ếch khủng khiếp chính là ảnh của đám sinh vật ấy. Có thể chúng là ngọn nguồn của tất cả những câu chuyện về tiên cá và những thứ tương tự. Chúng có đủ loại thành phố dưới đáy biển, và hòn đảo này đã được nâng lên từ đó. Xem chừng một số con vẫn còn sống trong các tòa nhà đá khi hòn đảo bất ngờ trồi lên khỏi mặt nước. Chính nhờ vậy mà đám Kanak mới biết chúng tồn tại dưới đó. Nói chuyện với nhau bằng cử chỉ ngay khi chúng hết sợ, và chẳng bao lâu sau thì đã hình thành giao kèo với nhau.
“Mấy thứ kia rất thích được hiến tế người. Cách đây rất lâu, chúng từng được tận hưởng điều đó, nhưng một thời gian sau thì mất dấu thế giới trên mặt đất. Tui không biết chúng đã làm gì với các nạn nhân, mà tui đoán Obed cũng chẳng buồn hỏi. Nhưng lũ ngoại đạo ấy không thấy có vấn đề gì, bởi vì tụi nó đang trong giai đoạn khó khăn và tuyệt vọng về mọi thứ. Tụi đấy hiến một lượng thanh niên nhất định cho lũ sinh vật dưới biển hai lần mỗi năm - vào Đêm Thánh Walpurgis và Halloween - thường xuyên hết mức có thể. Còn hiến thêm cả mấy món đồ tụi nó đã khắc ra nữa. Lũ sinh vật kia đồng ý sẽ đáp trả bằng cách cho thật nhiều cá tôm - chúng dồn cá từ khắp nơi trên biển đến - và thỉnh thoảng còn kèm thêm vài thứ giống như vàng.
“Như tui đã nói đấy, đám dân bản địa gặp lũ sinh vật kia trên hòn đảo núi lửa nhỏ bé - đi ca-nô ra đấy cùng với vật hiến tế và nhiều thứ khác nữa, mang về bất cứ món trang sức giống vàng nào mình được nhận. Mới đầu lũ sinh vật kia không bao giờ đi đến đảo chính, nhưng sau một thời gian thì chúng bắt đầu muốn làm vậy. Có vẻ chúng muốn pha trộn huyết thống với đám dân kia, và cùng nhau tổ chức các buổi lễ vào những ngày trọng đại - Đêm Thánh Walpurgis và Halloween. Thế này nhé, chúng có thể sống được ở cả trong và ngoài nước - tui đoán người ta gọi chúng là động vật lưỡng cư. Lũ Kanak nói với chúng rằng dân ở các đảo khác có thể sẽ muốn xóa sổ chúng nếu họ hay tin chúng xuất hiện ở đây, nhưng chúng nói chúng chẳng mấy quan tâm, bởi vì chúng có thể xóa sổ toàn bộ loài người nếu muốn - tức là tất cả những ai không sở hữu các dấu hiệu một thời được các Đại Đấng Cổ Xưa nay đã biến mất sử dụng, cho dù đấy có là ai. Nhưng vì chẳng quan tâm, chúng lần đi khi có ai đến thăm hòn đảo.
“Về phần phối giống với lũ cá trông giống ếch kia thì đám dân Kanak tỏ vẻ ngần ngại, nhưng cuối cùng tụi đấy được biết một điều, khiến cho sự tình trở nên khác hẳn. Dường như con người có mối quan hệ nào đó với lũ dưới nước - mọi thứ còn sống trên đời đều từng có thời sống dưới nước, và chỉ cần thay đổi một chút thôi là sẽ có thể quay trở lại. Lũ sinh vật kia nói với đám Kanak rằng nếu chúng phối giống với nhau, đám con mới đầu trông sẽ giống con người, nhưng về sau sẽ càng lúc càng trở nên giống chúng hơn, cho tới khi cuối cùng đám con xuống dưới nước và nhập bọn cùng phần lớn đám sinh vật dưới đó. Và đây là phần quan trọng, anh bạn trẻ à - những kẻ biến thành cá và xuống dưới nước sống kia sẽ không bao giờ chết. Lũ sinh vật kia không bao giờ chết, trừ khi bị chém giết dã man.
“Có vẻ là vào thời điểm Obed biết đến đám dân đảo ấy, tất cả tụi nó đều mang đầy thứ máu cá do lũ sinh vật dưới nước sâu truyền lại rồi. Khi già đi và bắt đầu để lộ ra cái huyết thống ấy, chúng được giấu biệt đi cho đến khi muốn xuống nước và rời bỏ hòn đảo. Một số kẻ mang nhiều máu cá hơn những kẻ khác, và một số kẻ không bao giờ thay đổi đủ để xuống hẳn dưới nước; nhưng hầu hết bọn chúng đều trở nên hệt như những gì lũ sinh vật kia đã nói. Những kẻ sinh ra giống lũ sinh vật kia sớm thay đổi, nhưng những kẻ gần giống con người hơn đôi khi ở lại trên đảo cho đến khi đã ngoài bảy mươi, mặc dù chúng thường thử nghiệm xuống dưới nước để chuẩn bị sẵn sàng cho điều đó. Những kẻ đã xuống dưới nước thường rất hay quay trở lại thăm nhà, thế nên chúng thường xuyên nói chuyện với cụ cố năm đời của chính mình, kẻ đã rời đất khô cách đây tầm vài trăm năm.
“Tất cả mọi người đều không còn lo về chuyện chết chóc nữa - ngoại trừ trong các cuộc chiến ca-nô với những người dân đảo khác, hoặc khi phải làm vật hiến tế cho đám thần thánh dưới biển, hay bị rắn cắn, ốm đau, mắc phải bệnh tiến triển nhanh nào hay thứ gì đó trước khi chúng có thể xuống dưới nước sống - mà chỉ đơn thuần ngóng chờ sự thay đổi mà sau một thời gian thì chẳng còn thấy kinh khủng nữa. Chúng nghĩ rằng những gì mình nhận được sẽ xứng đáng với tất cả những gì mình phải từ bỏ. Tui đoán ngay bản thân lão Obed cũng đã dần nghĩ như thế sau khi lão đã có thời gian nghiền ngẫm về câu chuyện của lão Walakea. Tuy nhiên, lão Walakea là một trong số rất ít những người không có chút máu cá nào trong mình - bởi vì lão là dòng dõi hoàng gia, chỉ kết hôn với hoàng tộc trên các đảo khác.
“Lão Walakea cho lão Obed xem rất nhiều nghi thức và thần chú có liên quan đến lũ sinh vật dưới biển, và cho lão gặp một số người trong làng đã phần nhiều mất đi hình dạng con người. Tuy nhiên, không cách này thì cách khác, lão Walakea không bao giờ để lão Thuyền trưởng thấy giống sinh vật kia lúc chúng rời khỏi làn nước. Cuối cùng lão đưa ra một thứ trông rất buồn cười, làm từ chì hay gì đó, nói là sẽ triệu hồi lũ cá kia lên từ bất kỳ nơi nào dưới nước, nơi có thể là tổ của chúng. Ý tưởng là thả nó xuống kèm theo niệm đúng thần chú cùng một số nghi thức khác tương tự. Lão Walakea tin rằng bọn chúng sống rải rác trên khắp thế giới, thế nên bất cứ ai cũng sẽ có thể tìm thấy một ổ và triệu hồi chúng nếu muốn.
“Matt không thích chuyện này chút nào, và muốn lão Obed tránh xa hòn đảo. Nhưng lão Thuyền trưởng rất giỏi đánh hơi mùi tiền, và phát hiện ra rằng lão có thể kiếm được những thứ giống như vàng kia với cái giá rẻ đến mức buôn chuyên hẳn về chúng thì sẽ vớ bẫm. Mọi chuyện cứ diễn ra như thế suốt nhiều năm, và lão Obed kiếm đủ mấy thứ giống như vàng kia để bắt đầu thành lập nhà máy luyện vàng trong cái chỗ đổ nát cũ của Waite. Lão không dám bán nguyên mớ trang sức, bởi thiên hạ sẽ gặng hỏi suốt. Dẫu vậy, thỉnh thoảng thủy thủ đoàn của lão vẫn kiếm được một món và bán đi, cho dù họ đã thề sẽ giữ mồm giữ miệng. Lão để cho đám đàn bà con gái trong gia đình mình đeo mấy món mang hình hài giống người hơn phần lớn các món khác.
“Đến khoảng năm 38 - khi tui bảy tuổi - lão Obed phát hiện ra toàn bộ đám dân trên đảo đều đã bị xóa sổ trong khoảng thời gian giữa hai chuyến hành trình của lão. Có lẽ những người dân đảo khác đã biết được chuyện gì đang diễn ra, và tự mình xử lý vấn đề. Xét cho cùng, chắc tụi kia hẳn sở hữu những dấu hiệu ma thuật mà lũ sinh vật dưới biển đã nói là thứ duy nhất chúng sợ. Ai mà biết được đám Kanak tình cờ nắm giữ những gì khi đáy biển đẩy mấy hòn đảo với những tàn tích cũ cổ xưa hơn cả trận đại hồng thủy lên trên mặt nước. Lũ sùng đạo khó chịu - đám đấy không chừa lại thứ gì trên cả đảo chính lẫn hòn đảo núi lửa nhỏ, ngoại trừ những phần tàn tích quá lớn không thể quật đổ được. Ở một số nơi, có những hòn đá nhỏ nằm ngổn ngang - giống như bùa chú - bên trên có một thứ mà ngày nay cậu gọi là chữ thập ngoặc. Có lẽ đấy là dấu hiệu của các Đại Đấng Cổ Xưa. Tất cả dân cư đều đã bị tiêu diệt, không còn chút dấu tích gì của những thứ giống vàng nữa, và chẳng ai trong số đám dân gần đó hở ra chữ nào về vụ việc cả. Thậm chí còn không thừa nhận trên hòn đảo kia từng có người.
“Lẽ đương nhiên, vụ này khiến lão Obed thiệt hại nặng, vì các công việc giao thương bình thường của lão đang rất khó khăn. Nó cũng tác động đến toàn bộ Innsmouth nữa, bởi trong thời còn đi biển, thứ gì có lợi cho một chủ tàu thường cũng sẽ mang lại lợi lộc tương ứng cho thủy thủ đoàn. Hầu hết đám dân trong thị trấn cam chịu như cừu chấp nhận thời kì khó khăn, nhưng họ lâm vào tình cảnh khốn đốn bởi cá bắt đầu khan hiếm và các nhà máy cũng chẳng làm ăn khá khẩm gì.
“Đó là lúc lão Obed bắt đầu chửi mắng đám dân vì sống như lũ cừu ngu xuẩn và cầu nguyện với một thiên đường Cơ Đốc giáo chẳng giúp đỡ được gì mình. Lão nói với họ rằng mình từng biết một giống dân cầu nguyên với các vị thần sẽ ban cho ta những gì ta thực sự cần, và nói rằng nếu có đủ người chịu ủng hộ mình, lão sẽ có thể kiếm một số quyền năng, giúp mang đến hàng đống cá và một lượng vàng lớn. Tất nhiên những người từng phục vụ trên tàu Sumatry Queen và từng thấy hòn đảo biết ý lão là gì, thì chẳng ham hố mấy chuyện gần gũi với lũ sinh vật dưới biển như đã nghe kể, nhưng những người không biết thế tức là sao trở nên hơi xiêu lòng trước những gì lão Obed nói, và bắt đầu hỏi xem lão có thể làm gì để mình có thể gia nhập cái tôn giáo sẽ giúp mang lại kết quả cho họ.”
Đến đây, lão già trở nên ấp úng, lẩm bẩm, và chìm vào im lặng mang đầy vẻ ủ rũ và sợ hãi. Lão lo lắng liếc ra sau vai và rồi quay lại dán chặt mắt vào rạn san hô đen xa xăm. Khi tôi nói chuyện với lão, lão không trả lời, thế nên tôi biết mình sẽ phải để cho lão uống nốt chai rượu. Câu chuyện bịa đặt điên rồ mà tôi đang được nghe khiến tôi cảm thấy hứng thú vô cùng, bởi vì tôi tin ẩn chứa bên trong nó là một câu chuyện ngụ ngôn thô sơ gì đấy về sự kì lạ của Innsmouth, được thêm mắm dặm muối bởi một khối óc vừa sáng tạo vừa chứa đầy những mẩu giai thoại ngoại lai. Tôi không hề tin rằng câu chuyện có bất kỳ nền tảng nào thực sự vững chắc; nhưng dẫu vậy, nó phần nào khơi dậy một nỗi kinh hoàng chân thật, dù chỉ bởi lẽ có nhắc đến mớ trang sức kì lạ rõ ràng có liên quan tới chiếc vương miện hiểm ác mà tôi đã thấy ở Newburyport. Có thể mớ trang sức ấy quả thật đã đến từ một hòn đảo kì lạ; và có lẽ những câu chuyện hoang đường là những lời dối trá của lão Obed quá cố hơn là của lão bợm nhậu này.
Tôi đưa cho lão Zadok cái chai, và lão tu nó cạn đến giọt cuối cùng. Thật lạ thường là lão lại sở hữu tửu lượng cao đến như vậy, cái giọng cao, khò khè của lão vẫn không lè nhè chút nào cả. Lão liếm miệng chai và nhét nó vào túi, sau đó bắt đầu gật gù và khẽ thì thầm một mình. Tôi chúi sát vào nhằm lắng nghe bất kỳ lời nói rõ ràng nào lão có thể sẽ thốt ra, và có cảm tưởng mình trông thấy một nụ cười mỉa mai đằng sau bộ râu hoen ố, rậm rạp. Vâng - lão quả thực đang nói hẳn câu hẳn từ, và tôi có thể hiểu được một lượng khá lớn.
“Matt tội nghiệp - chỉ mình Matt là không ủng hộ ý tưởng ấy - cố gắng thuyết phục mọi người về phe mình, và nhiều lần nói chuyện rất lâu với những người thuyết giáo… vô dụng… đám kia đuổi hết cha xứ Hội Thánh ra khỏi thị trấn, cái ông Giám lý thì bỏ đi… chẳng bao giờ gặp lại ông cha xứ Báp-tít Resolved Babcock nữa… Cơn thịnh nộ của Jehovah… tui chỉ là một đứa nhóc bé xíu, nhưng tui đã nghe điều mình nghe được và thấy điều mình đã nhìn thấy… Dagon và Ashtoreth… Belial và Beelzebub… Con Bò Vàng và các báu vật của bọn Canaan và Philistine… những tạo vật kinh tởm của Babylon… Mene, mene, tekel, upharsin…”
Lão dừng lại lần nữa, và căn cứ vào ánh nhìn trong đôi mắt xanh ươn ướt của lão, tôi sợ rằng có khi lão sắp sửa say bí tỉ thật rồi. Nhưng khi tôi nhẹ nhàng lắc vai lão, lão quay sang tôi với vẻ tỉnh táo đáng kinh ngạc và thốt ra mấy lời thậm chí còn khó hiểu hơn.
“Không tin tui hả? He, he, he - thế thì nói tui nghe coi, anh bạn trẻ, tại sao hồi trước Thuyền trưởng Obed và hai mươi người dân có lẻ khác toàn chèo thuyền ra Rạn Quỷ giữa lúc đêm hôm khuya khoắt và tụng một đống kinh ồn ã đến nỗi toàn thị trấn đều có thể nghe thấy nếu gió thổi đúng hướng? Nói tui nghe coi? Nói tui nghe thử tại sao lão Obed lúc nào cũng thả những thứ nặng nề xuống vùng nước sâu phía bên kia rạn san hô, nơi đáy biển thụt xuống như một vách đá, sâu khôn dò? Nói tui nghe coi lão đã làm gì với cái thứ hình thù quái dị bằng chì mà lão Walakea đưa cho? Thế nào, cậu? Và bọn chúng đã gầm rú những gì vào Đêm Thánh Walpurgis, và một lần nữa vào dịp Halloween năm sau? Tại sao các cha xứ nhà thờ mới - những người từng là thủy thủ - đều mặc áo choàng kì quái và đeo đầy mình mấy thứ giống như vàng mà lão Obed mang về? Thế nào hả?”
Đôi mắt xanh ươn ướt bây giờ đã gần như man rợ và điên rồ, bộ râu trắng bẩn xù lên như có điện. Chắc lão Zadok đã nhìn thấy tôi co rúm lại, vì lão bắt đầu cười sằng sặc đầy ác ôn.
“He, he, he, he! Bắt đầu nhận ra rùi hử? Có thể cậu muốn đứng ở vị trí của tui trong thời ấy, khi tui nhìn thấy nhiều thứ ngoài biển vào ban đêm từ trên cái mái vòm nhà tui. Ôi, tui xin khẳng định với cậu, bọn trẻ con hóng hớt giỏi lắm, và tui chẳng để lọt bất cứ tin ngồi lê đôi mách gì về lão Thuyền trưởng Obed và đám đi ra chỗ rạn san hô! He, he, he! Thế còn cái đêm tui lấy ống nhòm đi thuyền của tía tui lên mái vòm và nhìn thấy rạn san hô nhung nhúc những hình hài, ngay khi mặt trăng vừa lên thì tất cả nhào hết xuống ngay thì sao? Lão Obed và mấy người kia ngồi trong một con thuyền, nhưng mấy cái hình hài nhào vào trong làn nước sâu ở phía bên kia và không bao giờ ngoi lên… Cậu có thích làm một thằng nhóc ngồi một mình trên mái vòm quan sát các dạng hình không phải con người không?… Thế nào?… He, he, he, he…”
Lão già đang trở nên kích động, và tôi bắt đầu run rẩy với sự lo sợ bất định. Lão đặt một bàn tay xương xẩu lên trên vai tôi, và như tôi thấy thì nó không hoàn toàn rung rung vì bỡn cợt.
“Nếu một đêm nọ cậu nhìn thấy thứ nằng nặng gì đấy khiêng ra khỏi thuyền của lão Obed đằng sau rạn san hô, và đến ngày hôm sau thì được biết rằng một thanh niên đã biến mất khỏi nhà thì sao? Hả? Từ đó đến nay có ai còn trông thấy tăm hơi Hiram Gilman nữa không? Có không? Nick Pierce nữa, Luelly Waite, Adoniram Saouthwick, Henry Garrison? Thế nào? He, he, he, he… Những hình hài sử dụng đôi bàn tay để nói chuyện bằng ngôn ngữ ký hiệu… đó là đối với những người có tay thật thôi…
“Cậu ơi, ấy là lúc lão Obed lại bắt đầu ăn nên làm ra. Thiên hạ thấy ba đứa con gái của lão đeo mấy món giống như vàng chưa ai từng thấy bao giờ, và khói bắt đầu bốc ra từ ống khói nhà máy. Những người khác cũng phất lên - cá tôm bắt đầu ùn ùn kéo vào trong bến cảng, tha hồ đánh bắt, và có trời mới biết bọn tui bắt đầu chuyên chở hàng hóa to cỡ nào đến Newburyport, Arkham, và Boston. Đó là lúc lão Obed xoay xở cho tuyến đường sắt nhánh dẫn qua đây được mở. Một số ngư dân Kingsport hay tin về vụ cá tôm có nhiều và kéo đến rất đông, nhưng tất cả bọn họ đều biến mất. Không ai còn gặp lại họ nữa. Và đúng lúc ấy, dân bọn tui thành lập Bí Hội Dagon, với mua hội trường Hội Tam Điểm từ tay trang ấp Calvary… He, he, he! Matt Eliot là một thành viên Hội Tam Điểm và không muốn bán, nhưng đúng lúc ấy thì ông ta biến mất.
“Nhờ thế này, không phải tui muốn nói là lão Obed quyết tâm muốn cho mọi thứ giống hệt như những gì xảy ra trên hòn đảo Kanak đó đâu. Tui nghĩ mới đầu lão không định pha trộn huyết thống hay nuôi dưỡng trẻ con để chúng xuống dưới nước và biến thành cá bất tử. Lão muốn chỗ vàng, và sẵn sàng trả một cái giá cao, tui đoán những người khác cũng lấy làm hài lòng một thời gian…
“Thế rồi đến năm 46, thị trấn bắt đầu tìm hiểu và suy nghĩ. Quá nhiều người bị mất tích - quá nhiều bài thuyết giáo ngông cuồng tại buổi gặp mặt Chủ Nhật - quá nhiều người bàn tán về rạn san hô ấy. Tui đoán mình cũng đã kể cho Ủy viên Mowry kha khá những gì mình đã nhìn thấy từ trên mái vòm. Rồi tới đêm nọ, có một nhóm người bám theo đám của lão Obed để ra ngoài rạn san hô, và tui nghe thấy tiếng súng bắn giữa hai con thuyền. Ngày hôm sau lão Obed và ba mươi hai người khác đã bị tống vào nhà lao, tất cả mọi người đều băn khoăn không hiểu chuyện gì đang xảy ra và họ sẽ bị cáo buộc tội gì. Lạy Chúa, nếu có ai mà lường được trước… Hai tuần sau, khi đã lâu lắm rồi chẳng có gì được quẳng xuống dưới biển…”
Lão Zadok bấy giờ tỏ dấu hiệu hoảng hốt và kiệt sức. Tôi để lão giữ im lặng một lúc, mặc dù liếc nhìn đồng hồ một cách sợ hãi. Thủy triều đã thay đổi và đang dâng lên, tiếng sóng dường như đã khiến lão bừng tỉnh. Tôi lấy làm mừng vì cơn thủy triều đó đã đến, vì khi nước dâng cao, cái mùi tanh có khi cũng không đến nỗi quá tệ. Tôi lại một lần nữa dỏng tai lên nghe những lời thì thầm của lão.
“Cái đêm khủng khiếp ấy… Tui nhìn thấy chúng… Tui ở trên mái vòm… hàng đàn… hàng đống bọn chúng… trên khắp rạn san hô và bơi đến bến cảng, vào trong sông Manuxet… Lạy Chúa, chuyện xảy ra trên đường phố của Innsmouth đêm hôm ấy… chúng rung cửa nhà bọn tui, nhưng tía không mở… thế rồi ổng nhảy ra khỏi cửa sổ bếp cùng khẩu hỏa mai để đi tìm Ủy viên Mowry và xem mình có thể làm gì… Hàng đống người chết và hấp hối… tiếng súng và tiếng la hét… gào la ở quảng trường cũ và quảng trường thị trấn với New Church Green… nhà lao được mở ra… tuyên bố… phản quốc… gọi là bệnh dịch khi người ngoài đến và thấy phân nửa số bọn tui bị mất tích… không còn ai ngoài những người chịu về phe lão Obed và mấy thứ kia hoặc chịu giữ im lặng… chẳng bao giờ hay tin gì từ tía của tui nữa…”
Lão già thở hổn hển và vã đầm đìa mồ hôi. Nắm tay của lão trên vai tôi siết chặt lại.
“Tất cả mọi thứ được dọn sạch vào buổi sáng - nhưng vẫn có những dấu vết… Lão Obed lên nắm quyền và nói mọi thứ sẽ thay đổi… một số người khác sẽ đến thờ phụng cùng với bọn tui vào giờ hội họp, và một số nhà sẽ phải tiếp khách… họ muốn pha trộn huyết thống như đã làm với dân Kanak, và lão không muốn ngăn cản chúng. Lão Obed mất trí rồi… chẳng khác nào một gã điên khi đả động đến chuyện ấy. Lão nói họ mang cá với kho báu đến cho bọn tui, và cần được có thứ mình muốn…
“Bề ngoài thì sẽ chẳng có gì khác biệt cả, chỉ có điều bọn tui cần phải tránh xa người lạ nếu biết khôn. Tất cả bọn tui đều phải thực hiện Lời thề Dagon, và về sau còn có Lời thề thứ hai và thứ ba mà một số người phải thực hiện nữa. Những người chịu giúp đỡ những việc đặc biệt sẽ nhận được các phần thưởng đặc biệt - vàng và các thứ tương tự… Ngang ngạnh cũng chỉ vô dụng mà thôi, vì bọn chúng có đến hàng triệu tên dưới đó. Chúng không muốn trồi lên và xóa sổ loài người, nhưng nếu muốn và buộc phải làm vậy, chúng có thể làm việc ấy rất hiệu quả. Chúng ta không có những thứ bùa cổ để ngăn chặn chúng như đám dân ở Nam Thái Bình Dương, và dân Kanak chẳng bao giờ tiết lộ bí mật của mình.
“Nếu nộp đủ vật hiến tế với những món man rợ linh tinh và chịu chứa chấp chúng trong thị trấn khi chúng muốn, thì chúng sẽ để yên cho bọn tui. Sẽ không quấy rầy người lạ bởi vì thế có thể lộ tin ra ngoài - miễn là họ không tọc mạch. Tất cả đều tham gia giáo hội - Hội Dagon - và đám trẻ con sẽ không bao giờ chết, mà chỉ quay về với Đức Mẹ Hydra và Đức Cha Dagon, nguồn gốc một thời của tất cả chúng ta - Iä! Iä! Cthulhu fhtagn! Ph’nglui mglw’nafh Cthulhu R’lyeh wgah-naglfhtagn…”
Lão Zadok đang nhanh chóng rơi vào tràng nói sảng, và tôi nín thở. Lão già tội nghiệp - chỗ rượu của lão, cộng với lòng căm thù với sự suy đồi, xa lạ, và bệnh tật xung quanh mình đã đẩy bộ não sáng tạo, giàu trí tưởng tượng kia đến nước ảo giác thảm thương biết nhường nào! Bây giờ lão bắt đầu rên rỉ, và những giọt nước mắt đang tuôn rơi trên cặp má nhăn nheo của lão chảy vào sâu trong bộ râu của lão.
“Chúa ơi, những thứ tui đã chứng kiến từ hồi tui mười lăm tuổi - Mene, mene, tekel, upharsin! - những người bị mất tích, và những người tự sát - những người tiết lộ chuyện tại Arkham, Ipswich hay những nơi tương tự đều bị coi là điên, giống như cậu đang nghĩ về tui ngay bây giờ đây này - nhưng lạy Chúa, những thứ tui đã chứng kiến… Đáng lẽ chúng đã giết tui từ lâu vì những gì tui biết rồi, chỉ có điều tui đã thực hiện Lời thề Dagon thứ nhất và thứ hai với lão Obed, thế nên tui được bảo vệ, trừ khi một bồi thẩm đoàn bọn chúng chứng minh tôi đã nói lộ ra gì một cách cố ý và có chủ đích… nhưng tui không thể. Lời thề thứ ba - tui thà chết còn hơn…
“Mọi chuyện thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn trong thời Nội Chiến, khi những đứa trẻ sinh ra từ năm 46 bắt đầu lớn lên - một số đứa trong đám bọn chúng. Tui rất sợ - không bao giờ còn tọc mạch gì nữa sau cái đêm kinh khủng đó, và cả đời chưa bao giờ tận mắt trông thấy bất kì ai trong số… chúng. Ý là, tui chưa bao giờ thấy tên thuần huyết nào. Tui đi tham chiến, và nếu có gan hay đầu óc thì tui đã không bao giờ quay trở lại, mà sống xa nơi đây. Nhưng người ta viết thư cho tui, bảo là mọi thứ không đến nỗi nào. Tui đoán đó là bởi sau năm 63 thì chính phủ bắt trai tráng trong thị trấn đi quân dịch hết. Sau cuộc chiến thì lại tồi tệ như cũ. Mọi người bắt đầu sa sút - nhà máy và hàng quán đóng cửa - công việc vận chuyển ngưng hoạt động và bến cảng ách tắc - đường sắt bị bỏ bê - nhưng còn chúng… chúng không bao giờ ngừng bơi ra bơi vào dòng sông đó từ rạn san hô của quỷ Satan bị nguyền rủa kia - và càng ngày càng có thêm nhiều cửa sổ gác mái bị bít ván kín lại, và ngày một có thêm nhiều tiếng ồn được nghe thấy trong các ngôi nhà đáng lẽ phải không có người ở…
“Người dân bên ngoài có các giai thoại về bọn tui - trông kiểu mấy câu cậu hỏi thì chắc cậu đã nghe nhiều rồi - các giai thoại về những thứ họ thỉnh thoảng nhìn thấy, và về cái mớ trang sức kỳ quái vẫn đến từ đâu đó và không tan chảy hẳn - nhưng chẳng có gì cụ thể hết. Sẽ không ai tin gì cả. Họ gọi mấy thứ giống như vàng đó là kho báu hải tặc, và cho rằng dân Innsmouth có máu ngoại lai hay bị bệnh gì đó. Với cả, những người sống ở đây đuổi hết có thể những người lạ, và khuyến khích những người còn lại đừng có quá tò mò, đặc biệt là vào khoảng ban đêm. Lũ thú sợ chúng - ngựa tệ hơn lừa - nhưng khi có ô tô thì mọi thứ lại ổn.
“Năm 46, Thuyền trưởng Obed lấy một bà vợ hai mà không ai trong thị trấn từng thấy - một số người nói lão không muốn, nhưng bị những kẻ lão đã triệu đến ép buộc. Lão có ba đứa con với mụ - hai người biến mất khi còn trẻ, nhưng một cô con gái trông chẳng lạ thường gì và được học ở châu Âu. Obed cuối cùng cũng xoay xở dùng mưu để cho con nhỏ cưới một người ở Arkham, không hề nghi ngờ gì hết. Nhưng bây giờ không ai ở bên ngoài muốn dính dáng gì đến với dân Innsmouth. Barnabas Marsh hiện điều hành nhà máy luyện vàng, là cháu trai từ người vợ đầu của lão Obed - con trai của Onesiphorus, con trai trưởng của lão, nhưng mẹ gã Barnabas là một trong những người chẳng ai nhìn thấy ở bên ngoài bao giờ.
“Ngay bây giờ đây, Barnabas cũng sắp sửa thay đổi rùi. Không thể nhắm mắt được nữa, và hình dáng đã trở nên quái dị. Người ta bảo gã vẫn mặc quần áo, nhưng gã sẽ sớm xuống nước thôi. Có thể gã đã thử xuống rồi - đôi khi chúng xuống mấy đợt ngắn trước khi xuống hẳn. Không ai nhìn thấy gã ngoài đường gần mười năm nay rồi. Không biết cô vợ tội nghiệp của gã cảm thấy thế nào nữa - cô ta đến từ Ipswich, họ thiếu chút nữa là đã hành hình Barnabas khi gã tán tỉnh cô ta năm mươi năm có lẻ trước. Lão Obed chết năm 78, và tất cả các thế hệ tiếp theo bây giờ đã mất rồi - con bà vợ đầu đã chết, và những đứa còn lại… chỉ Chúa mới biết…”
Tiếng của dòng nước triều đang dâng giờ đã trở nên rất dai dẳng, và nó xem chừng dần dần khiến cho tâm trạng của lão già chuyển từ đau buồn sướt mướt sang sợ hãi đầy cảnh giác. Thỉnh thoảng lão dừng lại để một lần nữa lo lắng liếc ra sau vai hay về phía rạn san hô, và bất chấp câu chuyện của lão vô lý tột cùng, tôi không khỏi bắt đầu bị lây nỗi khiếp đảm mơ hồ của lão. Giọng lão Zadok bây giờ the thé hơn, và dường như đang cố gắng khơi dậy lòng can đảm của mình bằng cách nói lớn tiếng.
“Này, cậu, tại sao cậu không nói gì cả thế? Cậu có muốn sống trong một thị trấn như thế này, với tất cả mọi thứ thối rữa và chết dần chết mòn, và những con quái vật bị nhốt kín trườn bò, kêu, sủa và nhảy nhót loanh quanh trong các tầng hầm và căn gác đen ngòm khắp tứ phương tám hướng không? Hả? Cậu có muốn nghe tiếng hú hết đêm này sang đêm khác vọng ra từ các nhà thờ và Hội trường Hội Dagon, và biết kèm theo màn hú hét ấy là những gì đang được thực hiện không? Cậu có muốn nghe thứ gì đến từ rạn san hô khủng khiếp đó vào mỗi đêm Thánh Walpurgis và Halloween không? Hả? Nghĩ lão già này điên rồi hả? Thưa cậu, tui xin khẳng định với cậu rằng đó chưa phải là điều tệ nhất đâu!”
Bây giờ lão Zadok đã gào tướng hẳn lên, và cái chất điên cuồng trong giọng lão làm tôi cảm thấy lo âu hơn mức mình dám thừa nhận.
“Khốn kiếp, đừng ngồi đó nhìn tui theo cái kiểu như thế - tui khẳng định lão Obed Marsh đang ở dưới địa ngục, và phải ở im dưới đấy! He, he… dưới địa ngục, tui cam đoan đấy! Không thể bắt tui được - tui chưa làm gì cả mà cũng chưa cho ai biết gì cả…
“Ồ, có cậu hả, anh bạn trẻ? Chà, ngay cả nếu tui chưa cho ai biết gì, bây giờ tui sẽ kể đây! Cậu cứ ngồi im và nghe tui, cậu trẻ ạ - đây là điều tui chưa kể cho ai bao giờ hết… Tui đã nói rằng tui không đi tọc mạch sau đêm đó nữa - nhưng tui vẫn cứ phát hiện ra nhiều thứ!
“Cậu muốn biết nỗi kinh hoàng thật sự là gì hả? chà, là thế này đây - không phải là thứ lũ quỷ cá đã làm đâu, mà là điều chúng sẽ làm! Chúng đang mang những thứ từ nơi mình đến vào trong thị trấn - làm được mấy năm rồi, dạo gần đây thì hạn chế bớt. Mấy ngôi nhà ở phía Bắc dòng sông giữa phố Water và phố Main chứa đầy mấy thứ ấy - cả lũ quỷ lẫn những thứ chúng mang lên - và khi chúng đã sẵn sàng… Tui xin khẳng định, khi chúng đã sẵn sàng… đã bao giờ nghe đến một shoggoth chưa?…
“Này, cậu có nghe tui không? Tui xin khẳng định với cậu tui biết mấy thứ kia là gì - tui đã trông thấy chúng vào một đêm nọ, khi… Ê - AAAAA - A! Ế AAAAAAAA….”
Tiếng hét bất thình lình, chất chứa một nỗi hoảng loạn dã man đầy gớm guốc của lão già suýt nữa thì khiến tôi ngất đi. Mắt lão nhìn qua chỗ tôi, hướng về phía vùng biển hôi hám, lồi hẳn ra khỏi đầu lão; còn mặt lão thì đầy vẻ hãi hùng, chẳng khác nào một cái mặt nạ bi kịch Hy lạp. Bàn tay xương xẩu của lão găm mạnh vào vai tôi, và lão đờ người như tượng trong khi tôi quay đầu lại để nhìn thứ lão đã trông thấy.
Tôi chẳng thấy gì hết. Chỉ có mỗi làn nước triều đang lên, cùng với thứ có thể là một gợn sóng lăn tăn, tách lẻ hơn so với những hàng sóng vỗ ngoài xa. Nhưng bây giờ lão Zadok lại lắc tôi, và tôi quay đầu trở lại, quan sát cảnh khuôn mặt đông cứng vì hãi sợ kia tan chảy thành một nùi hỗn độn với mí mắt giần giật và nướu lợi lẩm bẩm. Chẳng bao lâu sau, giọng lão quay trở lại - mặc dù là dưới dạng một tiếng thì thầm run rẩy.
“Ra khỏi đây ngay! Ra khỏi đây ngay! Chúng đã nhìn thấy ta rồi - nếu muốn sống thì hãy ra khỏi đây đi! Đừng chờ đợi gì cả… bây giờ chúng biết cả rồi… chạy đi… nhanh lên… ra khỏi cái thị trấn này…”
Thêm một làn sóng nặng nề nữa ập vào khối xây gạch đá lỏng lẻo của cái cầu tàu một thời, và lại biến tiếng thì thầm của lão già điên thành một tiếng thét phi nhân tính và sởn gai ốc nữa.
“Ê - AAAAAA!… HAAAAAAA!…”
Trước khi tôi kịp hoàn hồn, lão đã thả lỏng bàn tay nắm vai tôi ra và cắm đầu cắm cổ lao thẳng vào trong đất liền, về phía con phố, quành về hướng Bắc, chạy quanh bức tường nhà kho đổ nát.
Tôi ngoái lại liếc về phía biển, nhưng chẳng có gì ở đó. Khi tôi đến phố Water và nhìn dọc theo về phía Bắc, không còn thấy bóng dáng lão Zadok Allen đâu nữa.
- IV -
Tôi khó lòng mô tả nổi tâm trạng của mình sau vụ việc kinh khủng ấy - một vụ việc vừa điên rồ mà lại vừa đáng thương, vừa kì cục mà lại vừa đáng sợ. Cậu thanh niên bán tạp hóa đã giúp tôi chuẩn bị sẵn tinh thần cho nó, ấy nhưng thực tại vẫn khiến tôi hoang mang và bất an. Mặc dù câu chuyện rất tầm phào, vẻ nghiêm túc và hãi sợ điên rồ của lão Zadok đã làm cho tôi càng một thêm lo lắng, và nó hòa chung vào với nỗi ghê tởm tôi từng cảm thấy về cái thị trấn này cũng như sự tăm tối vô hình bao trùm lấy nó.
Tôi có thể sàng lọc câu chuyện và trích xuất cái lõi ngụ ngôn lịch sử của nó ra sau; bây giờ thì tôi chỉ muốn gạt bỏ nó ra khỏi đầu. Thời giờ đã trở nên muộn màng đến nguy hiểm - đồng hồ của tôi cho thấy đã 7:15, và chuyến xe buýt đi Arkham rời quảng trường thị trấn lúc tám giờ - thế nên tôi cố gắng suy nghĩ theo chiều hướng trung lập và thực tế nhất có thể, đồng thời nhanh chóng rảo bước trên những con phố vắng vẻ, đầy các phần mái toang hoang và ngôi nhà nghiêng ngả, tiến về phía nhà trọ nơi tôi đã cất va-li và sẽ tìm thấy chiếc xe buýt của mình.
Mặc dù ánh sáng vàng của buổi chiều muộn đã mang đến cho những mái nhà cổ xưa và mớ ống khói đổ nát một vẻ đáng yêu và yên bình đầy huyền bí, tôi không khỏi thỉnh thoảng liếc ra sau vai. Tôi chắc chắn sẽ rất mừng khi được thoát khỏi Innsmouth hôi hám và đầy rẫy kinh hoàng, thầm ước giá mà có một phương tiện nào khác ngoài chiếc xe buýt do tay Sargent trông nham hiểm đó lái. Tuy nhiên, tôi không đi quá hộc tốc, vì mọi góc đường im ắng đều có những chi tiết kiến trúc đáng quan sát; và tôi tính mình có thể dễ dàng đi hết khoảng cách cần thiết trong nửa giờ.
Sau khi nghiên cứu tấm bản đồ của cậu bán tạp hóa và tìm một tuyến đường mình chưa từng đi qua trước đây, tôi chọn phố Marsh thay vì phố State để đến quảng trường. Gần góc phố Fall, tôi bắt đầu thấy lác đác vài nhóm người lấm lét thì thầm, và khi cuối cùng cũng đến được quảng trường, tôi thấy rằng hầu như tất cả những người vô công rồi nghề đều tụ tập quanh cửa Nhà trọ Gilman. Cảm giác cứ như thể nhiều đôi mắt lồi, ươn ướt, không bao giờ chớp cứ nhìn vào tôi theo một kiểu rất lạ lùng trong khi tôi nhận lại va-li của mình trong sảnh, và tôi hi vọng rằng không ai trong số những kẻ khó ưa này sẽ cùng ngồi với mình trên chiếc xe khách.
Chiếc xe buýt đến khá sớm, xành xạch nổ máy tiến vào với ba hành khách trước tám giờ, và một tay trông đầy vẻ xấu xa trên vỉa hè lẩm bẩm vài lời gì đó không thể nghe nổi với gã tài xế. Sargent ném ra một túi thư cùng cuộn báo, rồi vào nhà trọ; trong khi đám hành khách - chính những người tôi thấy đã đến Newburyport sáng hôm đó - loạng choạng lê bước xuống vỉa hè và lào khào nói mấy câu khe khẽ với một người vơ vẩn ở đấy bằng một ngôn ngữ mà tôi dám thề là không phải tiếng Anh. Tôi lên chiếc xe trống và ngồi vào chỗ mình từng ngồi lúc trước, nhưng chỉ vừa mới ổn định thì Sargent đã tái xuất và bắt đầu lẩm bẩm với cái giọng khàn khàn, ghê tởm lạ thường.
Có vẻ tôi đã rất xui xẻo. Động cơ gặp phải một vấn đề gì đó, mặc dù xe từ Newburyport đến rất sớm, và chiếc xe buýt không thể đi nốt đến Arkham. Không, nó không thể được sửa chữa vào tối hôm đó, cũng không có cách nào khác để kiếm xe ra khỏi Innsmouth, cho dù là đến Arkham hay nơi khác. Sargent xin lỗi, nhưng tôi sẽ phải nghỉ lại Gilman. Có lẽ nhân viên sẽ giảm giá cho tôi, nhưng chẳng có gì khác để làm nữa. Gần như choáng váng cả người bởi chướng ngại bất ngờ này, và khiếp hãi tột cùng viễn cảnh màn đêm buông xuống trong cái thị trấn suy tàn và nhập nhoạng này, tôi rời chiếc xe và trở lại sảnh nhà trọ. Người nhân viên trực đêm sưng sỉa, bộ dạng kỳ quái nói rằng tôi có thể lấy phòng 428 ở tầng áp chót - rộng rãi, nhưng không có nước máy - với giá một đô.
Bất chấp những gì đã nghe về nơi này ở Newburyport, tôi ký vào sổ đăng ký, trả tiền, để nhân viên mang va-li của mình, và đi theo tên phục vụ cáu bẳn, đơn độc leo lên ba cây cầu thang kẽo cà kẽo kẹt, băng qua những hành lang bụi bặm, trông có vẻ hoàn toàn vắng bóng người. Phòng của tôi là một căn phòng mạn sau ảm đạm với hai cửa sổ và đồ đạc nghèo nàn, rẻ tiền, nhìn xuống một cái sân dơ dáy bị bao quanh bởi những khối nhà gạch thấp, hoang vắng, đồng thời nhìn ra những mái nhà hư nát trải dài về phía Tây, kèm theo một vùng nông thôn lầy lội đằng xa. Ở cuối hành lang là phòng tắm - một khu di vật trông mà phát nản với chậu đá cẩm thạch cổ, bồn thiếc, đèn điện mờ, và các tấm ván ốp gỗ mốc meo phủ quanh tất cả các đường ống nước.
Vì trời vẫn còn đang sáng, tôi xuống quảng trường và nhìn ngó xung quanh để tìm một chỗ ăn tối nào đó; vừa tìm vừa để ý thấy những ánh liếc kì lạ mình nhận được từ đám vô công rồi nghề bệnh hoạn. Vì cửa hàng tạp hóa đã đóng cửa, tôi buộc phải ghé vào cái nhà hàng mình đã tránh xa lúc trước; phục vụ có một gã đàn ông gù, đầu hẹp đôi mắt nhìn chằm chằm, không bao giờ chớp, và một mụ mũi tẹt với đôi bàn tay dày, vụng về ngoài sức tưởng tượng. Đây là nhà hàng ăn tại quầy, và tôi nhẹ nhõm cả lòng khi thấy rõ ràng phần lớn đồ ăn được phục vụ đến từ đồ hộp và đồ đóng gói. Tôi chỉ cần một bát canh rau với bánh quy giòn là đủ, và sớm quay trở lại căn phòng ủ rũ của mình tại Gilman; lấy theo một tờ báo buổi tối và một tờ tạp chí lấm lem từ chỗ tay nhân viên mặt mày ác hiểm, tại quầy báo ọp ẹp bên cạnh bàn của hắn.
Khi hoàng hôn buông xuống, tôi bật lên cái bóng đèn điện yếu ớt trên chiếc giường khung sắt rẻ tiền, và hết sức cố gắng tiếp tục công việc đọc mà tôi đã bắt đầu. Tôi cảm thấy tốt nhất mình nên để cho tâm trí suy nghĩ về những điều lành mạnh, vì nghiền ngẫm về những điều bất thường của cái thị trấn cổ xưa, đầy bệnh hoạn này trong khi mình vẫn còn đang ở trong biên giới của nó sẽ chẳng ích lợi gì. Câu chuyện lảm nhảm điên rồ mà tôi đã được nghe lão bợm rượu già kể không hứa hẹn sẽ mang lại những giấc mơ dễ chịu gì cho cam, và tôi cảm thấy mình phải giữ hình ảnh đôi mắt ngấn nước, hoang dại của lão càng xa trí tưởng tượng của mình càng tốt.
Tôi cũng không được suy nghĩ nhiều về những gì mà viên thanh tra nhà máy đã kể với nhân viên bán vé tại Newburyport về Nhà trọ Gilman cũng như cái giọng của những người ở trọ đêm - cả nơi này lẫn cái khuôn mặt bên dưới chiếc vương miện trong khung cửa nhà thờ đen ngòm; cái khuôn mặt đã khơi gợi lên một nỗi kinh hoàng mà tâm trí tỉnh táo của tôi không tài nào giải thích được. Có lẽ nếu căn phòng không bẩn thỉu đến vậy, tôi đã có thể dỗ dành không nghĩ về những chủ đề khó chịu. Lúc bấy giờ, cái mùi mốc meo chết người hòa quyện đầy gớm ghiếc vào với mùi tanh dai dẳng của thị trấn khiến cho đầu óc con người ta chỉ có thể nghĩ về cái chết và sự suy tàn.
Một điều nữa làm tôi thấy bất an là cửa phòng tôi không có chốt. Các vết tích cho thấy rõ ràng từng có một cái được gắn ở đấy, nhưng có dấu hiệu mới bị loại bỏ gần đây. Không còn nghi ngờ gì nữa, nó đã bị hỏng, giống như rất nhiều thứ khác trong tòa nhà đổ nát này. Tôi lo lắng nhìn xung quanh và phát hiện ra một cái chốt trên tủ đựng quần áo, căn cứ vào các dấu tích thì dường như có cùng kích cỡ với cái chốt trên cửa. Để giải tỏa căng thẳng, tôi bận rộn chuyển món đó vào vị trí bị trống với món dụng cụ ba-trong-một tiện lợi tôi gài trên móc chìa khóa, trong đó có một cái tuốc-nơ-vít. Cái chốt được lắp vừa như in, và tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi biết rằng mình có thể cài chắc nó lại khi đi ngủ. Không phải vì tôi thực sự lo sẽ cần đến nó, nhưng bất kỳ biểu tượng của sự an ninh nào cũng sẽ được chào đón trong một môi trường như thế này. Có hai chốt đủ dùng ở hai cánh cửa kết nối các phòng bên hông, và tôi chốt chặt chúng lại.
Tôi không cởi quần áo mà quyết định đọc cho đến khi thấy buồn ngủ, và sau đó nằm xuống, chỉ cởi bỏ áo khoác, cổ áo và giày. Tôi lấy đèn pin bỏ túi ra khỏi va-li, đặt nó vào trong quần, để tôi có thể xem đồng hồ nếu sau mình có thức dậy trong bóng tối. Tuy nhiên, cơn buồn ngủ không đến; và khi tôi dừng lại để phân tích suy nghĩ của bản thân, tôi lo lắng phát hiện ra rằng mình kì thực đang vô thức lắng nghe một thứ gì đó - lắng nghe tiếng một thứ mình sợ nhưng không thể chỉ được đích danh. Câu chuyện của viên thanh tra đó hẳn đã tác động đến trí tưởng tượng của tôi sâu sắc hơn tôi tưởng. Một lần nữa, tôi cố gắng đọc, nhưng nhận thấy rằng mình không tiến triển được gì cả.
Sau một thời gian, tôi như nghe thấy cầu thang và hành lang kêu kẽo kẹt theo từng khoảng như thể có tiếng bước chân, và tự hỏi có phải các phòng khác bắt đầu có người vào không. Tuy nhiên, không có giọng nói nào, và tôi nhận thấy rằng tiếng cót két kia có nét gì đó hơi lấm lét. Tôi không thích thế, và tự hỏi liệu có nên ngủ hay không. Thị trấn này có những người dân kỳ quái, và chắc chắn đã có một vài vụ mất tích. Đây có phải là một trong những nhà trọ nơi khách du lịch bị giết để cướp của không? Tôi chắc chắn trông không lấy gì làm giàu sang cả. Hay là những người dân thị trấn thực sự rất ghét các du khách tọc mạch? Phải chăng hành động ngắm cảnh lồ lộ của tôi, cùng với việc thường xuyên nhìn bản đồ, đã khiến tôi thu hút sự chú ý theo một hướng bất lợi? Tôi nhận ra rằng mình hẳn phải đang ở trong một trạng thái cực kì bồn chồn thì mới đi đoán già đoán non theo kiểu như thế chỉ vì một vài tiếng kêu cọt kẹt ngẫu nhiên - nhưng tôi cũng vẫn hối hận là mình không có vũ trang.
Quãng thời gian sau, khi cảm thấy một sự mệt mỏi không dính dáng gì đến cơn buồn ngủ, tôi cài chốt cánh cửa dẫn vào hành lang mới được sang sửa, tắt đèn, và quăng mình xuống chiếc giường cứng, không bằng phẳng - ăn vận đầy đủ áo choàng, cổ áo, giày, và tất cả mọi thứ. Trong bóng tối, mọi âm thanh khẽ khàng của màn đêm đều như được khuếch đại, và một cơn lũ những suy tư khó chịu gấp đôi xâm chiếm lấy tôi. Tôi lấy làm hối hận vì đã tắt đèn, nhưng lại đã quá mệt mỏi để ngồi dậy và bật lại. Thế rồi, sau một hồi lâu lắc, thê lương, với khúc dạo đầu là một tiếng kẽo kẹt mới ngoài cầu thang và hành lang, một âm thanh nhẹ nhàng, không thể lấn vào đâu được vang lên, chẳng khác nào sự hiện thực hóa đầy thâm hiểm của tất cả những mối e ngại của tôi. Không còn chút nghi ngờ gì nữa, khóa cửa hành lang của tôi đang bị thử mở - đầy thận trọng, lén lút, ngập ngừng - với một chiếc chìa khóa.
Nhờ có những nỗi sợ mơ hồ trước đây, tôi không đến nỗi cảm thấy quá rối bời khi nhận ra dấu hiệu đang có một mối nguy thực sự. Tôi đã đề cao cảnh giác theo bản năng, mặc dù không có lí do nào cụ thể cả - và nó đã trở thành lợi thế của tôi trong cơn nguy biến mới và đầy chân thực này, bất kể nó có là gì. Tuy nhiên, việc mối đe dọa biến đổi từ một linh cảm mơ hồ sang hiện thực sát sườn vẫn cứ là một cú sốc lớn, và giáng xuống đầu tôi như một cú thụi ra trò. Tôi không bao giờ nghĩ đến khả năng cái hành động dò dẫm ấy có thể chỉ là một sự nhầm lẫn đơn thuần. Mục đích xấu là tất cả những gì tôi có thể nghĩ ra, và tôi nằm im như chết, chờ đợi động thái tiếp theo của kẻ đột nhập.
Được một lúc, tiếng lạch cạch thận trọng ngưng lại, và tôi nghe thấy căn phòng ở phía Bắc được mở bằng khóa chính và bước vào trong. Thế rồi khóa cửa phòng thông với phòng tôi được nhẹ tay thử mở. Tất nhiên, cái chốt vẫn trụ được, và tôi nghe thấy tiếng sàn nhà kêu cọt kẹt khi kẻ rình rập rời khỏi phòng. Thoáng sau, lại có thêm tiếng lạch cạch khe khẽ khác, và tôi biết đang có người vào căn phòng ở phía Nam của mình. Lại một lần nữa, có người lấm lét thử mở cánh cửa thông bị chốt chặt, và một lần nữa tiếng kẽo kẹt rút lui lại vang lên. Lần này, tiếng ọp ẹp đi dọc theo hành lang và xuống cầu thang, thế nên tôi biết rằng kẻ rình rập đã nhận ra cửa nẻo phòng tôi bị chốt hết và từ bỏ nỗ lực của mình, lâu hay mau thì phải tương lai mới biết.
Tôi lập ra một kế hoạch hành động nhanh chóng tới mức hẳn là tiềm thức tôi đã thầm e sợ mối đe dọa nào đó và cân nhắc các lối thoát tiềm tàng suốt nhiều giờ liền. Ngay từ đầu, tôi đã cảm thấy rằng cái kẻ mò mẫm vô hình kia là một mối nguy hiểm mình không thể đương đầu hay giải quyết nổi, mà chỉ còn nước bỏ trốn càng nhanh càng tốt. Điều cần làm là toàn mạng ra khỏi cái nhà trọ này nhanh nhất có thể, qua một con đường nào đó không phải là cầu thang trước và sảnh.
Tôi nhẹ nhàng ngồi dậy và bật đèn pin lên, tôi tìm cách bật bóng đèn bên giường để chọn lọc một số đồ đạc bỏ vào túi, sẵn sàng cho chuyến đào tẩu nhanh chóng, không có va-li. Tuy nhiên, không có gì xảy ra cả; và tôi nhận ra điện đã bị cắt. Rõ ràng đang có một mưu mô khó hiểu, tà ác với quy mô lớn nào đó diễn ra - cụ thể là gì thì tôi không thể xác định được. Trong khi đứng suy nghĩ với tay đặt nguyên trên cái công tắc giờ đã trở thành vô dụng, tôi nghe thấy một cót két nghèn nghẹt trên sàn nhà dưới tầng, và nghĩ rằng mình có thể loáng thoáng nhận ra giọng người đang trò chuyện. Một chốc sau, tôi không còn chắc chắn những âm thanh trầm hơn là giọng nói nữa, vì cái âm thanh nghe như tiếng sủa khàn khàn và những tiếng ộp oạp trệu trạo nghe gần như chẳng giống gì với bất cứ thứ tiếng nào của con người mà tôi nhận ra được cả. Thế rồi tôi sực nghĩ đến những gì mà thanh tra nhà máy đã nghe thấy trong đêm lưu lại tòa nhà đổ nát và độc hại này.
Sau khi đã nhét đầy túi với sự trợ giúp của cây đèn pin, tôi đội mũ và nhón chân ra cửa sổ để xem xét liệu có leo xuống được không. Bất chấp các quy định an toàn của nhà nước, không có lối thoát hiểm ở mạn bên này của nhà trọ, và tôi thấy rằng các cửa sổ của mình chỉ dẫn ra một cú rơi ba tầng thẳng đứng xuống nền sân rải sỏi. Tuy nhiên, ở bên phải và bên trái là mấy dãy nhà thương buôn xây bằng gạch cổ tiếp giáp với nhà trọ; mái nhà nghiêng của chúng dâng lên cách tầng thứ tư chỗ tôi một khoảng vừa đủ để nhảy sang. Để nhảy ra được một trong hai dãy nhà này, tôi sẽ phải ở trong một căn phòng cách phòng mình hai lần cửa - ở phía Bắc hoặc ở phía Nam - và tâm trí tôi ngay lập tức bắt tay vào tính toán xem khả năng mình chuyển phòng được là như thế nào.
Tôi quyết định rằng mình không thể đánh liều bước ra ngoài hành lang; nơi tiếng bước chân của tôi chắc chắn sẽ bị nghe thấy, và tại đó công cuộc bước vào căn phòng mong muốn sẽ gặp phải nhiều chướng ngại không thể vượt qua. Nếu có muốn đi đâu thì tôi sẽ phải sử dụng các cửa liên thông không được kiên cố bằng trong các phòng; tôi sẽ phải thô bạo thúc tung khóa và then cài, sử dụng vai như một cây đòn phá thành trước bất cứ cánh cửa nào ngăn cản mình. Tôi thầm nghĩ với bản chất ọp ẹp của tòa nhà cũng như đồ đạc trong này, đây sẽ là một điều khả thi; nhưng tôi nhận ra mình không thể thực hiện việc đó một cách im ắng. Tôi sẽ phải phụ thuộc hoàn toàn vào tốc độ, và cơ may đến được cửa sổ trước khi phe địch phối hợp để mở cánh cửa bên phải tôi bằng chìa khóa chính. Tôi gia cố cửa ngoài của phòng mình bằng cách đẩy cái tủ com mốt vào chặn lại - từng chút một, để hạn chế tối thiểu âm thanh.
Tôi nhận thấy cơ hội của mình rất mong manh, và hoàn toàn sẵn sàng đương đầu với bất kỳ thảm họa nào có thể xảy ra. Ngay cả việc nhảy sang một mái nhà khác cũng sẽ không giải quyết được vấn đề, vì sau đó sẽ vẫn còn nhiệm vụ làm sao để xuống được đến mặt đất và trốn thoát khỏi thị trấn. May cho tôi là các tòa nhà giáp ranh đều hoang vắng và đổ nát, và có hàng đống giếng trời mở toang hoác đen sì ở mỗi dãy.
Sau khi nhận thấy con đường tốt nhất ra khỏi thị trấn là về phía Nam nhờ tấm bản đồ của cậu thanh niên bán tạp hóa, tôi đầu tiên liếc nhìn cánh cửa thông nối ở phía Nam căn phòng. Nó được thiết kế để mở về hướng của tôi, thế nên tôi nhận ra rằng - sau khi rút chốt và thấy còn có một số cơ chế khóa khác nữa - nó không phải là một cánh cửa dễ thúc. Sau khi không chọn nó làm tuyến đường đào tẩu nữa, tôi thận trọng dịch giường để chắn nó lại, nhằm cản trở mọi nỗ lực tấn công nó từ phòng bên cạnh về sau này. Cánh cửa ở phía Bắc được lắp theo kiểu mở về hướng ngược tôi, và tôi biết đây sẽ phải là tuyến đường của mình - mặc dù khi kiểm tra thử thì thấy nó bị khóa hoặc chốt từ phía bên kia. Nếu tôi có thể lên được mái của các tòa nhà ở phố Paine và đáp xuống mặt đất thành công, có lẽ tôi có thể phóng qua sân trong và tòa nhà liền kề hoặc đối diện với Washington hoặc Bates - hoặc không thì chui ra ở Paine và đi vòng theo phía Nam để vào Washington. Dù gì thì gì, mục tiêu của tôi cũng sẽ là bằng cách nào đó vào Washington và nhanh chóng rời khỏi khu vực quảng trường. Tôi muốn tránh Paine, vì có khả năng trạm cứu hỏa hoạt động cả đêm.
Vừa nghĩ về những điều này, tôi vừa nhìn ra cái đại dương dơ bẩn của những mái nhà hoang phế bên dưới mình, hiện đang được soi tỏ bởi những tia sáng của một vầng trăng chưa quá kỳ trăng tròn là bao. Ở bên phải, cái vết rạch đen của hẻm sông chẻ đôi toàn cảnh; các nhà máy bỏ hoang và nhà ga đường sắt bám vào hai bên của nó chẳng khác nào hàu. Phía đằng sau, tuyến đường sắt gỉ sét và đường Rowley dẫn qua một vùng địa hình đầm lầy bằng phẳng, rải rác những đảo đất nhỏ phủ đầy bụi cây, cao và khô ráo hơn. Ở bên trái, vùng nông thôn với con sông chảy xuyên nằm ở gần hơn, con đường hẹp dẫn đến Ipswich lấp lánh trắng dưới ánh trăng. Từ mạn nhà trọ, tôi không thể nhìn thấy con đường phía Nam dẫn tới Arkham mà tôi đã quyết định chọn.
Đang lúc lưỡng lự suy đoán xem mình có nên tấn công cánh cửa phía Bắc không, và làm thế nào để có thể hành động được một cách yên ắng nhất có thể thì tôi để ý thấy rằng những tiếng động mơ hồ phía dưới đã nhường chỗ cho một tràng những tiếng kẽo cà kẽo kẹt mới và nặng nề hơn trên cầu thang. Một ánh sáng chập chờn chiếu qua xà ngang cửa phòng tôi, và những tấm ván trên hành lang bắt đầu rên rỉ với một tải trọng đáng kể. Những âm thanh nghèn nghẹt có thể là giọng người đến gần, và một lúc sau, tiếng gõ mạnh mẽ vang lên ở cửa ngoài của tôi.
Trong một khoảnh khắc, tôi chỉ đơn thuần nín thở và chờ đợi. Cảm giác như thể bao thiên thu trôi qua, và cái mùi tanh phát mửa trong môi trường tự nhiên nồng nặc gấp bội. Thế rồi tiếng gõ cửa được lặp lại - liên tục, và ngày càng dai dẳng. Tôi biết rằng đã đến lúc hành động, và ngay lập tức rút chốt cửa thông về phía Bắc, chuẩn bị tinh thần thúc mở nó. Tiếng gõ cửa vang lên to hơn, và tôi hi vọng rằng âm lượng của nó sẽ át đi tiếng hành động của tôi. Tôi cuối cùng cũng bắt đầu hành động, liên tục thúc vào tấm ván mỏng bằng vai trái, không buồn để tâm đến cú sốc hay đau đớn. Cánh cửa trụ vững thậm chí còn hơn mức kỳ vọng của tôi, nhưng tôi không đầu hàng. Và trong khi ấy, tiếng huyên náo ở cửa ngoài càng thêm ồn ã.
Cuối cùng cánh cửa thông cũng mở ra, nhưng với một tiếng rắc lớn đến độ tôi biết những kẻ bên ngoài hẳn đã nghe thấy nó. Tiếng gõ bên ngoài ngay lập tức trở thành một tràng đập dữ dội, trong khi tiếng chìa khóa rùng rợn vang lên trong ổ khóa cửa hành lang của các phòng ở cả hai bên tôi. Xộc qua lối thông mới mở, tôi xoay xở chốt được cửa hành lang phía Bắc trước khi khóa có thể bị vặn mở; nhưng ngay trong lúc làm vậy, tôi nghe thấy tiếng cửa hành lang của phòng thứ ba - căn phòng tôi từng hy vọng sẽ dùng được cửa sổ của nó để nhảy qua mái nhà bên dưới - bị thử mở bởi chìa khóa chính.
Trong thoáng chốc, tôi cảm thấy tuyệt vọng tột cùng, vì tôi xem chừng đã bị nhốt hẳn trong một căn phòng không có cửa sổ thoát ra ngoài. Một cơn hãi hùng gần bất thường xâm chiếm lấy tôi, đồng thời mang lại cho dấu tay bụi bặm mà tôi liếc thấy khi được ngọn đèn pin soi tỏ một nét kì dị khủng khiếp nhưng không thể giải thích được. Dấu tay được kẻ đột nhập để lại, sau khi hắn đã thử mở cửa phòng tôi từ căn phòng này. Thế rồi, với sự tự động đờ đẫn vẫn ngoan cố tồn tại bất chấp tình cảnh vô vọng, tôi xông đến chỗ cánh cửa thông tiếp theo và mù quáng làm động tác đẩy nó nhằm lao qua và - nếu khóa của nó vẫn may mắn còn nguyên vẹn như trong căn phòng thứ hai này - khóa cánh cửa hành lang bên kia trước khi nó có thể bị vặn mở từ phía ngoài.
Hoàn toàn nhờ may mắn mà tôi mới thoát được khỏi vòng nguy hiểm - bởi vì cánh cửa thông trước mặt tôi không những không bị khóa mà còn được để mở hé. Chỉ sau một giây, tôi đã chui lọt qua, và tì đầu gối cùng vai phải của mình vào một cánh cửa hành lang rõ ràng đang được mở vào bên trong. Sức đẩy của tôi có vẻ đã khiến kẻ mở cửa bất ngờ, vì nó đóng sầm lại khi bị tôi đẩy, cho phép tôi cài cái chốt trong tình trạng hãy còn tử tế vào như mình đã làm với cánh cửa kia. Vừa lúc kiếm được chút ngơi nghỉ, tôi nghe thấy tiếng đập trên hai cánh cửa kia lắng đi, trong khi một tràng những tiếng lạch cạch hỗn độn phát ra từ cánh cửa thông đã bị tôi lấy giường chặn lại. Rõ ràng là phần lớn những kẻ tấn công của tôi đã vào trong căn phòng phía Nam và đang tập trung lại, chuẩn bị thực hiện một cuộc tấn công từ cửa bên. Nhưng cùng lúc đó, tiếng chiếc chìa khóa chính vang lên ở cánh cửa phòng bên phía mạn Bắc, và tôi biết rằng mối nguy hiểm cận kề hơn đang sắp đến.
Cánh cửa thông phía Bắc đang mở toang hoang, nhưng không có thời gian để suy nghĩ về việc kiểm tra cái ổ khóa bẩy giờ đang xoay trong hành lang nữa. Tất cả những gì tôi có thể làm là đóng và chốt cánh cửa thông đang để mở, cũng như cánh cửa ở phía đối diện của nó - đẩy giường chặn một cửa lại và tủ chặn cửa kia, đồng thời đẩy cái bồn rửa ra trước cửa hành lang. Tôi nhận thấy mình buộc phải tin tưởng rằng những rào cản tạm thời ấy sẽ có thể bảo vệ mình cho đến khi tôi trèo ra được khỏi cửa sổ và leo lên trên nóc dãy nhà phố Paine. Nhưng ngay cả trong thời khắc cấp bách này, điều khiến tôi cảm thấy sợ hãi nhất lại không phải là sự yếu kém trước mắt của hàng phòng ngự mình lập ra. Tôi run lẩy bẩy bởi vì không ai trong số những kẻ đuổi theo mình phát ra một thanh giọng nghe không nghèn nghẹt hoặc có thể hiểu được, bất chấp thỉnh thoảng lại có những tiếng thở phì phò, gầm ghè và quát tháo khẽ đầy gớm guốc vang lên.
Trong khi di chuyển đồ đạc và lao về phía cửa sổ, tôi nghe thấy một tiếng di chuyển đáng sợ, chạy dọc theo hành lang về phía căn phòng phía Bắc của tôi, và thấy rằng tiếng đập phía Nam đã ngưng lại. Rõ ràng là hầu hết các địch thủ của tôi sắp tập trung tấn công cánh cửa thông yếu ớt mà chúng biết chắc chắn sẽ dẫn thẳng đến chỗ tôi. Bên ngoài, mặt trăng soi sáng nóc của dãy nhà bên dưới, và tôi thấy rằng với nơi hạ cánh dốc thế kia, cú nhảy của tôi sẽ cực kỳ nguy hiểm.
Sau khi săm soi các điều kiện, tôi chọn cửa sổ lệch về phía Nam hơn làm lối thoát; lên kế hoạch đáp xuống chái dốc bên trong của mái nhà và phóng về phía giếng trời gần nhất. Một khi đã vào được đến bên trong tòa nhà gạch hư nát, tôi sẽ phải tính đến chuyện ứng phó với việc bị theo đuổi; nhưng tôi hi vọng sẽ leo được xuống và chạy dích dắc qua những khung cửa mở toang dọc theo khoảng sân bị bóng tối bao phủ, cuối cùng là ra được phố Washington và trốn khỏi thị trấn về phía Nam.
Tiếng lạch cà lạch cạch ở cánh cửa thông phía Bắc giờ nghe thật khủng khiếp, và tôi thấy rằng tấm ván yếu đang bắt đầu vỡ vụn. Hiển nhiên những kẻ bao vây đã mang vật nặng gì đó đến để dùng làm cây đòn. Tuy nhiên, chiếc giường vẫn trụ vững; thế nên tôi ít nhất cũng có một cơ hội mong manh để trốn thoát. Khi mở cửa sổ ra, tôi nhận thấy rằng bao quanh hai bên cửa là những tấm màn nhung nặng, treo trên một cây cột bằng những chiếc vòng đồng, và còn có cả cái móc lớn thò ra để đóng cửa chớp ở bên ngoài. Nhận ra đây là một phương án có thể giúp mình tránh phải thực hiện một cú nhảy nguy hiểm, tôi giật mạnh rèm treo và kéo hết chúng xuống, cả cột lẫn mọi thứ; sau đó nhanh chóng móc hai vòng tròn vào trong móc cửa và quăng tấm màn treo ra bên ngoài. Tấm màn nặng chạm hẳn đến mái nhà giáp ranh, và tôi thấy mấy chiếc vòng và cái móc nhiều khả năng sẽ chịu được trọng lượng của mình. Thế là sau khi trèo ra khỏi cửa sổ và leo dọc cái thang dây tự chế, tôi mãi mãi bỏ lại đằng sau tòa nhà bệnh hoạn và đầy rẫy kinh hoàng là Nhà trọ Gilman.
Tôi an toàn đáp xuống những tấm ngói lỏng lẻo của mái nhà dốc, và xoay xở đến được cái giếng trời hếch hoác đen ngòm mà không bị trượt chân. Khi liếc lên ô cửa sổ mình vừa rời đi, tôi thấy nó vẫn tối om, mặc dù xa bên kia những ống khói đổ nát ở phía Bắc, tôi có thể thấy ánh đèn độc địa đang rực soi ở Hội trường Hội Dagon, nhà thờ Báp-tít, cùng nhà thờ Công giáo mà tôi đến rùng cả mình khi nhớ lại. Xem chừng không có ai trong khu sân bên dưới, và tôi hi vọng sẽ có cơ hội thoát đi trước khi chúng đánh động khắp nơi. Lúc chiếu ngọn đèn pin bỏ túi vào trong cái giếng trời, tôi thấy rằng không có bậc thang nào dẫn xuống hết. Tuy nhiên, khoảng cách chẳng đáng kể mấy, thế nên tôi leo qua mép và nhảy xuống, tiếp đất trên sàn nhà đầy bụi bặm rải rác vô số hộp và thùng đổ nát.
Nơi này trông thật ghê tởm, nhưng tôi không còn để tâm đến những ấn tượng như vậy nữa và ngay lập tức lao về phía cây cầu thang được ngọn đèn pin của mình soi rọi - sau khi liếc vội vào đồng hồ, bấy giờ đang chỉ hai giờ sáng. Các bậc thang kêu kẽo kẹt, nhưng có vẻ khá chắc chắn; và tôi phi qua một tầng lầu trông như chuồng trại để xuống đến tầng trệt. Mọi thứ hiu quạnh tột cùng, và đáp lại những bước chân của tôi chỉ có tiếng vọng âm. Lát sau, tôi xuống đến sảnh dưới, và thấy ở một đầu của nó là hình chữ nhật sáng lờ mờ, đánh dấu ô cửa điêu tàn dẫn ra phố Paine. Đi về hướng ngược lại, tôi thấy cửa sau cũng mở. Tôi lao ra ngoài, leo hết năm bậc đá và xuống những phiến đá cuội mọc đầy cỏ trong sân.
Ánh trăng không chiếu xuống đến đây, nhưng tôi vẫn có thể lờ mờ thấy đường về mà không cần dùng đèn pin. Một số cửa sổ bên hông Nhà trọ Gilman đang tỏa sáng mờ nhạt, và tôi nghĩ rằng mình nghe thấy những âm thanh hỗn loạn bên trong. Tôi nhẹ nhàng tiến về phía phố Washington và thấy có một vài ô cửa mở, chọn cửa gần nhất làm đường thoát ra. Hành lang bên trong đen như hũ nút, và khi ra đến đầu bên kia, tôi thấy cửa dẫn ra phố đã bị nêm chặt. Quyết tâm thử một tòa nhà khác, tôi lần mò tiến về phía sân trong, nhưng dừng lại khi đến gần ngưỡng cửa.
Nguyên nhân là bởi một đám đông đầy những dáng hình đáng ngờ hiện đang túa ra từ một cánh cửa để mở tại Nhà trọ Gilman - đèn lồng lắc lư trong bóng tối, cùng những giọng nói ồm ộp kinh khủng khẽ réo nhau bằng một thứ tiếng chắc chắn không phải là tiếng Anh. Các bóng hình di chuyển loạng choạng, và tôi nhẹ nhõm nhận ra rằng chúng không biết tôi đã đi đâu; nhưng dẫu vậy, chúng vẫn khiến cơn run lẩy bẩy vì hãi hùng truyền dọc cơ thể tôi. Không tài nào nhìn ra nổi các nét mặt của chúng, nhưng cái dáng đi lúi húi, lóng ngóng trông kinh tởm phi thường. Và điều tệ nhất là tôi nhận thấy có một kẻ ăn mặc theo kiểu quái đản, và trông rõ là có đội chiếc vương miện cao với thiết kế quen thuộc vô cùng. Trong lúc các hình hài dàn ra khắp sân, tôi cảm thấy nỗi sợ hãi của mình tăng lên. Lỡ tôi không thể tìm nổi lối thoát ra khỏi tòa nhà này và dẫn vào phố thì sao? Cái mùi tanh tưởi thật gớm ghiếc, và tôi chẳng hiểu liệu mình có thể chịu đựng được mà không lăn đùng ra ngất hay không. Tôi lại lần nữa mò mẫm tìm đường ra phố, một cánh cửa bên hông hành lang và bước vào một căn phòng trống không với cửa sổ bị đóng kín nhưng không có khung. Lọ mọ trong ánh sáng của cây đèn pin, tôi phát hiện ra rằng mình có thể mở được cửa chớp; và chỉ một thoáng sau tôi đã leo ra bên ngoài, cẩn thận đóng cửa lại như cũ.
Tôi giờ đã ở trên phố Washington, và hiện không thấy bất kì sinh vật hay nguồn sáng nào ngoài ánh trăng. Tuy nhiên, từ một số hướng ở xa, tôi có thể nghe được những giọng nói khàn khàn, tiếng bước chân, và tiếng bành bạch lạ lùng không giống tiếng bước chân mấy. Rõ ràng là tôi không thể lãng phí thời gian được. Tôi xác định được rất rõ tứ phương tám hướng, và lấy làm mừng là toàn bộ đèn đường đều đã bị tắt, đúng như cái lệ ở các vùng nông thôn nghèo trong những đêm trăng sáng. Một số âm thanh vọng đến từ phía Nam, ấy nhưng tôi vẫn giữ nguyên ý định bỏ trốn theo hướng đó. Tôi biết sẽ có rất nhiều ô cửa hoang vắng để mình nấp vào nếu đụng trúng bất kì kẻ hay nhóm nào trông như thể đang truy đuổi mình.
Tôi rảo bước thật nhanh, khẽ khàng, và bám sát những ngôi nhà đổ nát. Mặc dù đầu trần và bơ phờ sau chuyến leo nặng nhọc, tôi trông không đến nỗi quá đáng chú ý; và khả năng cao sẽ được phớt lờ nếu buộc phải giáp mặt bất kỳ người đi đường thông thường nào. Tại phố Bates, tôi rút vào một tiền sảnh mở toang hoang trong khi hai hình hài liêu xiêu đi qua trước mặt, nhưng chẳng bao lâu sau tôi đã lại đi tiếp và đến gần khu đất quang nơi phố Eliot xiên ngang qua Washington ở ngã tư phố South. Mặc dù chưa bao giờ nhìn thấy nơi này, tôi đã thấy đây là nơi nguy hiểm trên bản đồ của cậu thanh niên; bởi ánh trăng sẽ tha hồ chiếu rọi xuống đó. Né tránh cũng chỉ vô dụng, vì bất kỳ tuyến đường nào khác cũng sẽ buộc tôi phải đi lòng vòng và có thể bị lộ diện cũng như trì hoãn đầy tai hại. Điều duy nhất tôi còn có thể làm là mạnh dạn và công khai băng qua nó; bắt chước giống nhất có thể cái dáng lóng nga lóng ngóng điển hình của đám dân Innsmouth, và tin tưởng rằng sẽ không có ai - hay ít nhất là không kẻ nào đang đuổi theo tôi - sẽ có ở đó.
Tôi không tài nào đoán nổi cuộc truy đuổi được tổ chức quy củ nhường nào - hay thậm chí mục đích của nó có thể là gì. Thị trấn xem chừng nhộn nhạo bất thường, nhưng tôi nghĩ rằng tin tức về việc tôi đã trốn khỏi Gilman vẫn chưa loan đi khắp nơi. Tất nhiên, tôi sẽ sớm phải chuyển từ Washington sang một đường phố phía Nam khác; vì đám người từ khách sạn kia chắc chắn sẽ đuổi theo tôi. Tôi hẳn đã để lại những dấu chân bụi bặm trong tòa nhà cũ cuối cùng, cho thấy tôi đã ra ngoài phố như thế nào.
Đúng như tôi dự đoán, khoảng trống bị ánh trăng rọi sáng trưng; và tôi nhìn thấy ở giữa nó là tàn dư của một không gian xanh nhìn như công viên, với lan can sắt. May mắn thay, không có ai ở quanh đấy, mặc dù dường như có một tiếng vo vo hay gầm gừ lạ thường gì đó đang càng lúc càng ồn ã vọng lại từ hướng quảng trường trung tâm. Phố South rất rộng, dẫn thẳng xuống một con dốc thoải chạy ra sát biển và có cả một đoạn dài nhìn ra biển; và tôi hi vọng sẽ không ai liếc lên nhìn nó từ xa trong lúc tôi đang đi dưới ánh trăng sáng.
Hành trình của tôi không bị ngăn trở gì, và không có âm thanh mới nào vang lên để cho thấy tôi đã bị phát hiện. Tôi đánh mắt liếc nhìn xung quanh, vô tình khiến tốc độ di chuyển của mình chững lại trong giây lát để ngắm cảnh biển, lộng lẫy dưới ánh trăng nóng bỏng ở cuối con đường. Ở tít đằng sau đê chắn sóng là cái đường lằn mập mờ, tăm tối của Rạn Quỷ, và trong khi nhìn ngắm nó, tôi không thể không nghĩ về tất cả những truyền thuyết ghê tởm mình đã được nghe kể trong hai mươi tư tiếng vừa qua - những truyền thuyết miêu tả khối đá gồ ghề kia như một cửa ngõ thực sự, dẫn vào các miền kinh hoàng khôn lường và bất thường ngoài sức tưởng tượng.
Thế rồi tôi bất thình lình trông thấy những chớp sáng nhấp nháy từng hồi trên rạn san hô xa. Chúng xuất hiện vô cùng rõ ràng và không thể lẫn đi đâu được, khơi dậy trong tâm trí tôi một nỗi kinh hoàng mù quáng với tầm vóc phi lý tột cùng. Cơ bắp của tôi gồng căng lên, sẵn sàng cuống cuồng bỏ chạy. Thứ duy nhất kìm hãm điều ấy là sự thận trọng phần nào vô thức cùng với niềm ham thích như thôi miên. Và tệ hơn nữa, vụt lóe lên từ đỉnh vòm cao ngất của Nhà trọ Gilman, nằm lù lù ở mạn Đông Bắc phía sau tôi, là một loạt các chớp sáng tương tự dù giãn cách theo kiểu khác, chắc chắn chỉ có thể là tín hiệu trả lời.
Sau khi kiểm soát cơ bắp của mình, đồng thời lại nhận ra bản thân đang lộ liễu đến nhường nào, tôi tiếp tục rảo chân bước theo cái kiểu lóng ngóng giả đò; mặc dù vẫn không ngừng để mắt quan sát rạn san hô ghê tởm và đáng sợ chừng nào đoạn đường quang của phố South vẫn cho phép tôi nhìn ra biển. Tôi không thể hình dung nổi ý nghĩa của toàn bộ quy trình đó là gì; trừ khi nó dính dáng đến các nghi lễ kỳ lạ có liên quan tới Rạn Quỷ, hoặc một nhóm nào đó đã từ thuyền đặt chân lên khối đá nham hiểm kia. Tôi giờ rẽ sang bên trái, đi vòng quanh khu màu xanh hoang tàn; vẫn nhìn về phía đại dương trong khi nó lóng lánh dưới ánh trăng hè ma mị, và theo dõi những chớp sáng khó hiểu của những ngọn đèn hiệu vô danh, bí hiểm.
Đúng lúc ấy, một ấn tượng kinh khủng chưa từng thấy giáng xuống đầu tôi. Nó phá tan chút tự chủ cuối cùng còn sót lại trong tôi và khiến tôi cắm đầu cắm cổ chạy như điên qua những khung cửa toang hoác đen ngòm và các ô cửa sổ như mắt cá dõi ra trên con phố ác mộng vắng vẻ đó. Nguyên nhân là bởi khi quan sát kĩ hơn, tôi thấy rằng làn nước dưới ánh trăng giữa rạn san hô và bờ biển chẳng hề trống không chút nào. Nó nhung nhúc một bè lũ dáng hình bơi vào trong đất liền, về phía thị trấn; và ngay cả ở khoảng cách xa xôi cũng như chỉ thoáng thấy trong khoảnh khắc, tôi vẫn có thể nhận ra những cái đầu bập bềnh và các cánh tay vung vẩy mang bản chất dị hợm và lệch lạc khó lòng mô tả hay diễn đạt nổi bằng một cách có ý thức.
Màn chạy trốn điên cuồng của tôi chấm dứt trước khi tôi đi hết một dãy nhà, vì ở bên trái, tôi bắt đầu nghe thấy thứ gì đó như tiếng hò la và gào thét của một cuộc săn đuổi có tổ chức. Có tiếng bước chân và những âm thanh lào khào trong họng, và tiếng xe lạch cạch vọng đến từ phía Nam, dọc theo phố Federal. Chỉ trong tích tắc, tất cả các kế hoạch của tôi thay đổi hoàn toàn - vì nếu đường cao tốc về phía Nam trước mặt tôi bị chặn, tôi rõ ràng sẽ phải tìm một lối khác để thoát khỏi Innsmouth. Tôi dừng lại và rút vào một ô cửa mở, suy nghĩ về việc mình đã may mắn nhường nào khi rời được khỏi cái khu trống trải dưới ánh trăng trước khi những kẻ truy đuổi kia từ con phố song song đến.
Một suy nghĩ thứ hai không được khuây khỏa bằng. Vì chúng truy đuổi dọc theo một con phố khác, rõ ràng là nhóm đó không bám thẳng theo tôi. Chúng không nhìn thấy tôi, mà chỉ đang đơn thuần triển khai một kế hoạch chung chung nhằm chặn đứng đường thoát của tôi. Tuy nhiên, điều này ám chỉ rằng tất cả các con đường dẫn ra khỏi Innsmouth đều đang bị tuần tra như thế; bởi không thể có chuyện đám dân ở đây biết tôi định đi đường nào. Nếu quả đúng là như vậy, tôi sẽ phải băng qua miền đồng quê, tránh xa mọi con đường để đào tẩu; nhưng sao mà tôi làm vậy được khi tất cả các vùng xung quanh toàn đầm lầy và lạch nước ? Não tôi thoáng quay cuồng - cả vì tuyệt vọng lẫn vì cái mùi tanh ở khắp nơi đều nhanh chóng càng lúc càng nồng nặc.
Thế rồi tôi nghĩ đến tuyến đường sắt bỏ hoang dẫn ra Rowley, nơi dải đất rắn chắc được rải đá, mọc đầy cỏ dại vẫn còn trải dài từ nhà ga đổ nát nằm bên rìa của hẻm sông về phía Tây Bắc. Có khả năng đám dân thị trấn sẽ không lường đến nó; vì tình trạng bị bỏ hoang, đặc nghẹt thạch nam làm cho nó gần như không thể sử dụng được, và là tuyến đường khó có thể được một kẻ đào tẩu chọn lựa nhất. Tôi đã nhìn thấy nó rõ ràng từ cửa sổ nhà trọ, và biết nó được xây như thế nào. Hầu hết đoạn đầu lộ liễu đến ghê người nếu nhìn từ con đường dẫn đi Rowley, và từ những nơi cao trong thị trấn; nhưng vẫn có thể kín đáo bò qua các bụi cây. Dù gì thì gì, nó cũng sẽ là cơ hội giải thoát duy nhất của tôi, và chẳng còn nước nào khác ngoài làm thử.
Tôi rút sâu vào bên trong nơi trú ẩn hoang vắng của mình, một lần nữa tham khảo tấm bản đồ với sự trợ giúp của đèn pin. Vấn đề trước mắt là làm thế nào để đến được tuyến đường sắt cổ xưa đấy. Tôi thấy rằng con đường an toàn nhất sẽ là tiến thẳng đến phố Babson, sau đó đi về phía Tây đến Lafayette - đi vòng quanh một vùng không gian mở tương tự nơi tôi ban nãy đã đi chứ không đi cắt qua nó - rồi sau đó quay về hướng Bắc và hướng Tây theo tuyến đường ngoằn ngoèo đâm xuyên qua các phố Lafayette, Bates, Adams, và Bank - với con phố cuối men sát hẻm sông - để đến nhà ga bỏ hoang và đổ nát tôi đã thấy từ cửa sổ phòng mình. Lý do tôi đi thẳng ra Babson là vì không muốn quay trở lại không gian trống trải ban nãy hay bắt đầu hành trình đi về phía Tây của mình dọc theo một con đường rộng như South.
Tôi khởi hành lần nữa, băng qua đường sang phía bên tay phải để lỉnh vòng vào Babson kín đáo nhất có thể. Tiếng ồn vẫn tiếp tục vang lên ở phố Federal, và khi liếc nhìn phía sau, tôi cứ ngỡ đã thấy một tia sáng gần tòa nhà mình vừa thoát ra. Vì nôn nóng muốn rời khỏi phố Washington, tôi bắt đầu lặng lẽ chạy, mong trời run rủi không cho mình đụng phải bất kì con mắt quan sát nào. Ngay góc đường của phố Babson, tôi giật mình thấy rằng một trong những ngôi nhà vẫn còn có người ở, như tấm rèm treo cửa ở cửa sổ đã chứng minh; nhưng bên trong không có ánh đèn, và tôi băng qua nó mà không gặp phải thảm họa gì.
Ở phố Babson, nơi cắt ngang Federal và do đó có thể làm tôi bị những kẻ tìm kiếm trông thấy, tôi bám sát những tòa nhà oằn lún, cập kênh hết mức có thể; hai lần dừng lại ở một ô cửa khi những tiếng ồn phía sau thoáng tăng lên. Không gian mở phía trước trông rộng thênh thang và đầy hoang vắng dưới ánh trăng, nhưng tuyến đường của mình sẽ không buộc tôi phải băng qua nó. Trong lần dừng chân thứ hai, tôi bắt đầu nghe thấy một tràng những âm thanh mơ hồ mới xuất hiện; và khi thận trọng ló mắt nhìn ra từ nơi ẩn nấp, tôi thấy một chiếc xe phóng qua không gian mở, hướng ra ngoài thị trấn dọc theo phố Eliot, nơi giao với cả Babson lẫn Lafayette.
Trong lúc quan sát - phát nghẹn vì mùi tanh đột ngột nồng hẳn lên sau khi vừa giảm đi một hồi - tôi thấy một nhóm hình hài vụng về, lui cui nhảy cóc và lê bước đưa chân theo cùng hướng ấy; và biết rằng đây hẳn phải là toán bảo vệ con đường dẫn đi Ipswich, vì tuyến đường cao tốc đó là phần nối dài của phố Eliot. Trong số những hình hài tôi trông thấy, có hai kẻ mặc áo choàng lùng nhùng, và một kẻ đội chiếc vương miện có chóp nhọn lấp lánh trắng dưới ánh trăng. Dáng đi của tên này kì lạ đến nỗi khiến một cơn ớn lạnh lan tỏa khắp người tôi - vì theo tôi thấy thì sinh vật này cứ như đang nhảy chồm chồm.
Khi kẻ cuối cùng trong cái đám ấy đã đi khuất mắt, tôi lại tiếp tục hành trình của mình; phóng vòng quanh góc đường để vào trong phố Lafayette, và vội vã băng qua Eliot đề phòng trường hợp có kẻ nào rơi rớt đằng sau nhóm vẫn đang tiến dọc con đường đó. Tôi nghe thấy một số tiếng ồm ộp và lạch cạch ở tít phía quảng trường, nhưng vẫn qua được con phố mà không gặp phải thảm họa nào. Nỗi sợ hãi lớn nhất của tôi là lại phải băng qua phố South rộng lớn và ngập tràn ánh trăng - nơi có thể nhìn hướng ra biển - và tôi phải lên dây cót tinh thần trước khi lao đầu vào thử thách này. Rất dễ có khả năng kẻ nào đó sẽ theo dõi, và có thể đám tụt lại đằng sau trên phố Eliot kiểu gì cũng nhìn thấy tôi từ một trong hai điểm này. Vào phút chót, tôi quyết định rằng tốt nhất mình nên đi chậm lại và băng qua đường như trước, với cái dáng đi lóng nga lóng ngóng của một tay Innsmouth bản địa bình thường.
Khi khung cảnh bể nước lại một lần nữa xuất hiện - lần này ở bên phải mình - tôi gần như quyết tâm sẽ không nhìn vào nó. Tuy nhiên, tôi không thể cưỡng lại nổi; và tôi đánh mắt liếc sang ngang trong khi cẩn thận bắt chước cái dáng lóng ngóng tiếng về phía những bóng tối bao bọc phía trước. Không thấy bóng dáng tàu bè gì cả, dù tôi phần nào kỳ vọng chúng sẽ xuất hiện. Thay vào đó, thứ đầu tiên đập vào mắt tôi là một chiếc xuồng nhỏ tiến về phía cầu tàu bỏ hoang và chở theo một vật cồng kềnh, bị phủ kín bạt. Đám người chèo nó sở hữu diện mạo cực kì kinh tởm, mặc dù hãy còn đang ở phía xa và trông chẳng rõ mặt mũi gì hết. Vẫn còn thấy rõ được có mấy tên đang bơi; trong khi ở rạn san hô đen ngoài xa, tôi có thể thấy một quầng sáng mờ nhạt, đều đều, không như ngọn đèn hiệu nhấp nháy từng xuất hiện khi trước, và mang một sắc màu kì lạ mà tôi chẳng tài nào xác định cụ thể được. Vươn mình lù lù phía trên những mái nhà nghiêng đằng trước và bên phải là khung vòm cao của Nhà trọ Gilman, nhưng nó tối đen hoàn toàn. Cái mùi cá tanh tưởi ban nãy vừa được một làn gió nhân từ xua đi trong giây lát giờ lại ập đến, nồng nặc đến phát rồ phát dại.
Chưa kịp băng qua đường xong thì tôi nghe thấy một đám người lẩm bẩm tiến dọc Washington từ phía Bắc. Khi chúng ra đến vùng không gian rộng mở nơi tôi lần đầu đến sởn gai ốc khi nhìn thấy làn nước sáng ánh trăng, tôi có thể trông thấy chúng rất rõ, cách đó chỉ một dãy nhà - và phát khiếp trước nét dị thường như thú vật trên khuôn mặt chúng cùng cái dáng đi gù phi nhân loại, chẳng khác nào chó của chúng. Một kẻ di chuyển theo kiểu cực kì giống khỉ, với cánh tay dài thường xuyên chạm đất; trong khi một nhân vật khác - mặc áo choàng và đội vương miện - thì dường như lại có kiểu tiến lên gần như nhảy cóc. Tôi đoán đám này chính là cái đoàn tôi đã thấy trong sân của Gilman - tức là đám theo sát dấu tôi nhất. Khi một số kẻ quay sang nhìn theo hướng của tôi, tôi như chết đứng vì sợ hãi, ấy nhưng vẫn có giữ được cái dáng đi bình thản, lóng ngóng mình đang giả bộ. Cho đến tận ngày hôm nay, tôi cũng chẳng biết liệu chúng có nhìn thấy mình hay không. Nếu có, mưu mô của tôi hẳn đã qua mắt được chúng, bởi vì chúng băng qua vùng không gian dưới ánh trăng mà không hề thay đổi lộ trình - vừa đi vừa ộp oạp kêu và lảm nhảm thứ thổ ngữ lào khào đáng ghét nào đó mà tôi không thể xác định nổi.
Sau khi đã một lần nữa vào lại trong bóng tối, tôi tiếp tục rảo bước như ban nãy, đi ngang qua những ngôi nhà xiêu vẹo và đổ nát, đờ đẫn nhìn chằm chằm vào màn đêm. Một khi đã băng qua vỉa hè phía Tây, tôi vòng qua góc đường gần nhất để vào phố Bates, nép sát các tòa nhà ở phía Nam mà đi. Tôi đi ngang hai ngôi nhà có dấu hiệu đang có người ở, với một nhà có ánh sáng mờ nhạt tỏa ra từ các phòng trên tầng, nhưng không gặp phải trở ngại nào. Lúc đi vào phố Adams, tôi cảm thấy an toàn hơn nhiều, nhưng bị sốc mạnh khi có một tay lao ra khỏi ô cửa màu đen ngay trước mặt. Tuy nhiên, hắn quá say xỉn để có khả năng gây hiểm họa cho tôi; thế nên tôi đến được khu tàn tích thê lương của các kho hàng trên phố Bank một cách an toàn.
Trên con phố tiêu điều bên cạnh hẻm sông ấy chẳng có lấy một bóng người, và tiếng thác chảy ầm ầm nhấn chìm hẳn tiếng bước chân tôi. Chặng đường đến nhà ga đổ nát khá dài, và không hiểu sao, những bức tường nhà kho lớn bằng gạch khắp xung quanh tôi trông còn đáng sợ hơn mặt tiền của những ngôi nhà riêng. Cuối cùng tôi cũng thấy nhà ga mái vòm cổ - hay những gì còn sót lại của nó - và tiến thẳng đến chỗ những đường ray dẫn ra từ phía đầu bên kia của nó.
Các đường ray đã bị hoen gỉ nhưng chủ yếu vẫn còn nguyên vẹn, và số lượng tà vẹt đã bị mục nát lên đến không quá nửa. Đi hay chạy trên một bề mặt như vậy rất khó khăn; nhưng tôi cố hết sức, và nhìn tổng thể thì tiến độ đi không đến nỗi nào. Tuyến đường men theo mép hẻm sông một đoạn, nhưng một lúc sau, tôi ra đến chỗ cây cầu có mái che dài bắc ngang qua vực tại một độ cao chóng mặt. Tình trạng của cây cầu này sẽ quyết định bước tiếp theo của tôi. Nếu có thể, tôi sẽ sử dụng nó; bằng không, tôi sẽ phải mạo hiểm đi lang thang thêm trên phố và băng qua cây cầu đường cao tốc còn lành lặn gần nhất.
Đoạn cầu cũ dài khổng lồ, rộng ngang nhà kho, lấp lánh đầy ma quái dưới ánh trăng. Tôi thấy rằng các tà vẹt sẽ đủ an toàn để đi sâu vào trong cầu ít nhất một vài mét. Lúc bước vào, tôi bắt đầu sử dụng cây đèn pin của mình, và suýt nữa thì bị đám mây dơi bay qua chỗ mình thúc ngã. Đi được khoảng nửa đường thì có một khoảng hổng nguy hiểm giữa các tà vẹt, khiến tôi thoáng e ngại rằng sẽ gây trở ngại cho mình; nhưng cuối cùng, tôi đánh liều thực hiện một cú nhảy tuyệt vọng và nhờ may mắn mà đã thành công.
Tôi lấy làm mừng khi lại được nhìn thấy ánh trăng lúc chui ra khỏi đường hầm rùng rợn đó. Tuyến đường sắt cũ dẫn dốc vào phố River, và ngay lập tức rẽ vào một khu vực càng lúc càng đậm chất thôn quê, với mùi tanh ghê tởm của Innsmouth ngày một loãng dần. Ở đây, những mảng cỏ dại dày đặc và mâm xôi cản trở tôi và tàn nhẫn xé toạc quần áo của tôi, nhưng tôi vẫn mừng là chúng có ở đó để giúp mình ẩn nấp trong trường hợp nguy hiểm xuất hiện. Tôi biết rằng phần lớn tuyến đường của mình chắc chắn sẽ có thể quan sát được từ đường đến Rowley.
Chẳng bao lâu sau, vùng đầm lầy bắt đầu xuất hiện, với duy nhất tuyến đường nằm trên một bờ kè thấp, đầy cỏ, nơi cỏ dại mọc phần nào thưa thớt hơn. Sau đó thì tôi đến một kiểu đảo đất cao hơn, nơi đường ray băng qua một nhánh đường nông, đặc nghẹt những bụi cây và đá cuội. Tôi rất vui sướng trước cái chốn nấp nửa vời này, vì ở vị trí hiện tại, đường đi Rowley gần đến đáng ngại theo như những gì tôi nhìn thấy. Ở đoạn cuối nhánh đường, nó sẽ băng qua đường ray và rẽ sang một khoảng cách an toàn hơn; nhưng trong khi ấy tôi sẽ phải hết sức cẩn thận. Tính đến giờ, tôi vui mừng tin chắc rằng tuyến đường sắt không bị tuần tra.
Ngay trước khi bước vào nhánh đường, tôi liếc nhìn ra sau lưng, nhưng không thấy ai đuổi theo hết. Những ngọn tháp và mái nhà cổ của Innsmouth thối nát lấp lánh đầy đáng yêu và thanh khiết dưới ánh trăng vàng kỳ diệu; tôi nghĩ về diện mạo thời xưa chúng, trong những tháng ngày bóng tối chưa bao trùm. Thế rồi, khi ánh mắt của tôi liếc từ thị trấn vào sâu trong đất liền, một thứ kém thanh bình hơn thu hút sự chú ý của tôi và khiến tôi bất động trong tích tắc.
Thứ tôi nhìn thấy - hay nghĩ rằng mình đã nhìn thấy - là một dáng chuyển động nhấp nhô nào đó ở tít phía Nam, trông rất đáng lo ngại. Nó khiến cho tôi nhận định rằng một đám đông rất lớn hẳn đang tuôn ra khỏi thị trấn, dọc theo con đường bằng phẳng dẫn về Ipswich. Khoảng cách rất xa xôi, và tôi không thể nhìn thấy được gì chi tiết cả; nhưng tôi không thích cái khung cảnh hàng người đang chuyển động kia chút nào. Nó trồi lên thụp xuống quá nhiều, và lấp lánh quá rực rỡ dưới những tia sáng của vầng trăng nay đã bắt đầu lặn về phía Tây. Cũng có chút âm thanh vọng đến nữa, mặc dù gió đang thổi theo hướng khác - nghe như tiếng cạo kèn kẹt và gầm rống của thú vật, thậm chí còn tệ hơn cả tiếng lẩm bẩm của mấy đám người tôi đã nghe thấy gần đây.
Đủ kiểu phỏng đoán không mấy dễ chịu xuất hiện trong tâm trí tôi. Tôi nghĩ về những tên Innsmouth biến dạng tột cùng, theo lời đồn thì được ẩn giấu trong những hang động đổ nát, xưa cũ gần bờ biển. Tôi cũng nghĩ về những người bơi vô danh mà mình từng trông thấy. Nếu tính các đoàn tôi đã nhìn thấy cho đến nay, cũng như những kẻ có lẽ đang canh chừng các con đường khác, số lượng người đuổi theo tôi hẳn phải lớn đến kì lạ đối với một thị trấn bị bỏ hoang như Innsmouth.
Dòng người đông đúc như tôi giờ đang trông thấy này có thể đến từ đâu được nhỉ? Phải chăng những hang ổ cổ xưa, chưa được thăm dò kia nhung nhúc sinh vật sống đời lệch lạc, không được liệt kê, và không ai ngờ đến? Hay đã có một con tàu tôi không thấy cho một quân đoàn những kẻ lạ mặt nào đó đổ bộ lên đất liền từ trên cái rạn san hô địa ngục kia? Chúng là ai? Tại sao chúng lại ở đó? Và nếu có nguyên một hàng ngũ những kẻ như thế lùng sục con đường dẫn đến Ipswich, liệu các nhóm tuần tra trên những con đường khác có được củng cố theo kiểu tương tự không?
Lúc tôi đã bước vào nhánh đường đầy bụi rậm và đang trầy trật đưa chân với tốc độ chậm rề rề thì cái mùi tanh khốn kiếp lại dâng lên nồng nặc. Có phải gió đột ngột đổi sang hướng Đông, khiến nó thổi từ biển vào và lướt qua thị trấn không? Tôi kết luận rằng sự tình hẳn phải như vậy, vì bây giờ tôi bắt đầu nghe thấy những tiếng thì thầm lào khào đến sững sờ vọng lại từ cái hướng vốn im lặng bấy lâu nay. Còn có cả âm thanh khác nữa - một tràng những tiếng bì bọp hay lạch bạch ồn ã, không hiểu sao lại khơi gợi lên những hình ảnh đáng ghê tởm tột cùng. Vô lý thay, nó khiến tôi nghĩ đến cái dòng người nhấp nhô ghê rợn trên con đường dẫn đến Ipswich ở phía đằng xa.
Và rồi cả mùi hôi thối lẫn các tiếng ồn ngày càng gia tăng về cường độ, khiến tôi phải ngừng lại, rùng mình, và thầm thấy biết ơn vì đã được nhánh đường bảo vệ. Tôi nhớ rằng đây chính là chỗ con đường dẫn đi Rowley men sát hẳn vào với tuyến đường sắt cũ trước khi cắt ngang qua nó về phía Tây và tẽ đi. Một thứ gì đó đang đi dọc con đường này, và tôi phải nấp kín cho tới khi nó đi qua và biến mất ở phía xa. Ơn trời là lũ này không sử dụng chó để truy lùng - mặc dù có lẽ điều đó sẽ là bất khả thi giữa cái mùi đặc trưng tràn ngập khắp nơi này. Tôi cảm thấy khá an toàn khi chui rúc trong các bụi cây của cái khe đầy cát đó, cho dù tôi biết lũ tìm kiếm mình kiểu gì cũng sẽ băng qua con đường trước mặt tôi, cách vị trí tôi đứng không quá một trăm mét. Tôi sẽ có thể nhìn thấy chúng, nhưng chúng thì không thể nhìn thấy tôi, trừ khi một phép lạ ác hiểm nào đó xảy ra.
Bất thình lình, tôi bắt đầu cảm thấy hãi sợ cảnh phải ngắm nhìn chúng khi chúng đi qua. Tôi nhìn thấy khoảnh đất sáng ánh trăng ngay gần, nơi chúng sẽ đi ngang, và trong đầu nảy ra những suy nghĩ lạ thường về sự ô uế vô phương gột rửa của vùng không gian ấy. Có thể chúng sẽ là kiểu dân Innsmouth tồi tệ nhất - cái ngữ không ai muốn nhớ.
Mùi hôi thối trở nên nồng nặc vô cùng, và những tiếng ồn ào dâng lên thành một nùi thanh âm thú vật, đầy tiếng ộp oạp, rú rít, và sủa loạn, không mang chút dáng vẻ giọng người gì hết. Đây thực sự là tiếng nói của những kẻ đang đuổi theo tôi ư? Hay là rốt cuộc thì chúng có chó thật? Cho đến nay, tôi chưa thấy bất kì loại vật hạ cấp nào ở Innsmouth. Tiếng bì bọp hay bành bạch ấy thật kinh khủng - tôi không dám quan sát lũ sinh vật suy đồi phát ra nó. Tôi sẽ nhắm chặt mắt cho đến khi mớ thanh âm lùi dần về phía Tây. Giờ đây cái bầy đó đã ở rất gần - bầu không khí nhơ nhuốc cả đi với những tiếng gầm gừ ồm ồm, và mặt đất gần như rung chuyển với những bước chân đưa theo những nhịp quái đản của chúng. Tôi thiếu chút nữa thì nín thở, và dồn toàn bộ sức mạnh ý chí vào việc ghì cho mí mắt của mình nhắm lại.
Tôi thậm chí còn chưa sẵn sàng khẳng định liệu chuyện xảy ra sau đấy là một thực tại gớm guốc hay chỉ là ảo giác ác mộng. Về sau, căn cứ vào động thái của chính phủ khi tôi khẩn thiết van lơn thì có vẻ nó quả là một sự thật dị hợm; nhưng chẳng lẽ một ảo giác lại không thể được tái hiện dưới câu thần chú gần như thôi miên của cái thị trấn cổ xưa, ma quái, và chìm trong bóng tối đó ư? Những nơi như vậy sở hữu nhiều đặc tính khác lạ, và di sản mà truyền thuyết điên rồ để lại có thể đã tác động đến trí tưởng tượng của không chỉ một người giữa những con đường chết chóc, hôi thối và các mái nhà mục ruỗng cũng như các tháp chuông đổ nát. Biết đâu thực sự có mầm mống của một sự điên rồ truyền nhiễm lẩn khuất sâu thẳm bên trong cái thứ bóng tối trùm trên Innsmouth kia? Ai có thể chắc chắn về thực tại nổi sau khi được nghe những thứ như câu chuyện của lão Zadok Allen chứ? Người của chính phủ không bao giờ tìm thấy lão Zadok tội nghiệp, và không đưa ra được phỏng đoán gì về số phận của lão. Đâu là nơi sự điên rồ chấm dứt và thực tại bắt đầu? Có khi nào ngay cả nỗi sợ hãi mới nhất của tôi là ảo tưởng thuần túy hay không?
Nhưng tôi phải cố gắng thuật lại những gì tôi nghĩ rằng mình đã nhìn thấy dưới vầng trăng vàng đầy móc mỉa trong đêm hôm đó - thứ tôi đã nhìn thấy nhảy lên nhảy xuống trên con đường dẫn đến Rowley, lồ lộ ngay trước mặt trong lúc tôi chúi người dưới những lùm cây dại của nhánh đường sắt hoang vắng đó. Tất nhiên, quyết tâm nhắm mắt của tôi thất bại hoàn toàn. Số trời đã định sẵn là việc ấy sẽ thất bại - vì nào ai có thể mù quáng thu mình trong khi một quân đoàn những thực thể ộp oạp, rú rít không rõ từ đâu đến ồn ào lạch bạch băng qua, cách mình đâu tầm mỗi trăm mét?
Tôi cứ ngỡ rằng bản thân đã sẵn sàng tinh thần chứng kiến điều tồi tệ nhất, và thật tình mà nói, với những gì đã thấy trước đó thì tôi đáng lẽ phải sẵn sàng rồi. Những kẻ truy đuổi tôi đều dị hợm ghê tởm - thế nên hà cớ gì tôi lại có thể không sẵn sàng đối mặt với việc yếu tố quái đản sẽ tăng cường; sẵn sàng nhìn ngắm những hình hài không mang chút nét bình thường nào? Tôi không mở mắt cho đến khi tràng tiếng ồn ầm ĩ vang lên từ một điểm nằm rõ ràng ngay trước mặt. Thế rồi tôi biết rằng một phần dài của cái đoàn ấy hẳn phải đang hiện lù lù trước mắt, nơi hai bên nhánh đường bẹt ra và con đường băng qua đường ray - và tôi không còn có thể ngăn mình quan sát thử nỗi kinh hoàng mà vầng trăng vàng hiểm độc có để soi tỏ.
Hành động ấy đã khiến cho tôi không còn lưu giữ nổi sự bình an tâm trí cũng như niềm tin vào sự toàn vẹn của Thiên Nhiên và tâm trí con người trong suốt toàn bộ phần đời còn sót lại trên dương gian của mình nữa, bất kể nó có kéo dài bao lâu. Không thứ gì tôi có thể tưởng tượng ra - thậm chí là không điều gì tôi có thể suy đoán nổi ngay cả nếu có hiểu câu chuyện điên rồ của lão Zadok theo nghĩa đen hoàn toàn - lại đủ sức so sánh nổi với cái thực tại ma quái, báng bổ thánh thần mà tôi đã nhìn thấy - hay tin là tôi đã nhìn thấy. Tôi đã cố gắng ám chỉ về bản chất của nó nhằm trì hoãn một công việc đầy hãi hùng, ấy chính là viết hẳn nó ra. Chẳng lẽ hành tinh này thực sự sản sinh ra những thứ như vậy; chẳng lẽ mắt người đã thực sự nhìn thấy dưới dạng xác thịt cụ thể thứ cho đến nay chỉ được con người biết đến trong ảo mộng của một khối óc kích động và truyền thuyết viển vông ư?
Ấy nhưng tôi đã thấy cả một dòng bất tận những tạo vật như thế - bước bì bọp, nhảy cóc, kêu ồm ộp, be be - quái thai tràn đến dưới ánh trăng ma mị trong một vũ điệu dị hợm, ác hiểm của cơn ác mộng kỳ quái. Và mấy kẻ trong số chúng đội những chiếc vương miện cao làm từ thứ kim loại trắng vàng vô danh kia… một số mặc đồ theo kiểu lạ lùng… tên dẫn đường mặc áo khoác đen gù lên đầy ghê rợn cùng quần sọc, chiếc mũ phớt đội trên một thứ không hình không dạng thế chỗ cái đầu…
Tôi nghĩ màu chủ đạo của chúng là xanh xám, mặc dù chúng có bụng màu trắng. Chúng chủ yếu bóng loáng và trơn nhẫy, nhưng những lằn gợn trên lưng chúng có vảy. Dáng hình của chúng hao hao giống người, trong khi đầu chúng lại là đầu cá, với đôi mắt lồi tướng không bao giờ nhắm. Hai bên cổ là những cái mang phập phồng, và bàn tay dài thì có màng. Chúng nhảy theo một kiểu thất thường, đôi khi trên hai chân và đôi khi lại bằng cả tứ chi. Chẳng hiểu sao tôi lấy làm vui mừng vì chúng có không quá bốn chi. Cái giọng ồm ộp, rít rống mà rõ ràng chúng dùng để giao tiếp mạch lạc với nhau chứa đựng mọi sắc thái biểu cảm tăm tối mà khuôn mặt nhìn chòng chọc của chúng không thể hiện được.
Nhưng bất chấp sự quái dị, chúng không xa lạ với tôi. Tôi biết quá rõ chúng là gì - vì không phải là ký ức về chiếc vương miện tà ác ở Newburyport vẫn còn tươi mới trong tôi đó sao? Chúng chính là những con cá ếch báng bổ trong cái mẫu thiết kế không tên ấy - sống nhăn và đầy kinh khủng - khi tôi nhìn thấy chúng, tôi cũng biết luôn gã linh mục gù, đội vương miện trong tầng hầm đen ngòm của nhà thờ đã gợi cho mình nhớ lại điều ghê rợn gì. Số lượng của chúng không thể áng chừng nổi. Như tôi thấy thì chúng có hàng bầy bất tận - và chắc chắn cái nhìn thoáng qua của tôi chỉ có thể cho tôi thấy một phần rất nhỏ. Chỉ tích tắc sau, mọi thứ bị xóa nhòa bởi một cơn ngất xỉu đầy nhân từ; cơn ngất xỉu nhân từ đầu tiên tôi từng được trải nghiệm.
- V -
Một cơn mưa lâm thâm ban ngày đánh thức tôi dậy từ cơn mê trên nhánh đường sắt bị bụi rậm phủ kín, và khi lảo đảo bước ra con đường phía trước, tôi không thấy bất kỳ dấu chân nào trong lớp bùn mới. Mùi tanh cũng đã biến mất. Những mái nhà đổ nát và các tháp chuông sụp đổ của Innsmouth vươn mình xám xịt ở phía Đông Nam, nhưng tôi không thấy sinh vật sống nào trong tất cả các đầm lầy muối hoang vắng xung quanh mình. Đồng hồ của tôi vẫn đang chạy, và cho tôi biết rằng giờ đã quá trưa.
Thực tại của những gì tôi đã trải qua rất mờ mịt trong tâm trí tôi, nhưng tôi cảm thấy rằng một cái gì đó gớm guốc nằm trong nền cảnh. Tôi phải tránh xa khỏi Innsmouth hắc ám - và vì thế, tôi bắt đầu kiểm tra cặp phương tiện chuyên chở đang chuột rút, mệt mỏi của mình. Một hồi lâu sau, mặc dù mệt lử, đói bụng, kinh hãi, và hoang mang, tôi thấy mình vẫn có thể đi được; và thế là tôi bắt đầu chậm rãi bước dọc con đường đầy bùn lầy dẫn đến Rowley. Trước khi trời tối, tôi đã vào đến làng, kiếm được một bữa ăn bỏ bụng và quần áo tử tế. Tôi bắt chuyến tàu đêm đến Arkham, và sang ngày hôm sau thì có một buổi nói chuyện dông dài và đầy khẩn thiết với giới chức trách ở đó; sau đó tôi lặp lại quy trình này ở Boston. Công chúng giờ đã quen thuộc với kết quả chính của những cuộc nói chuyện này - và tôi mong rằng vì sự bình thường của thế giới, chẳng có gì để kể thêm nữa. Có thể nguyên nhân chỉ là tôi đang bị sự điên rồ xâm chiếm - ấy nhưng cũng có thể là một nỗi kinh hoàng khủng khiếp hơn - hay một điều kỳ diệu lớn lao hơn - đang vươn về phía tôi.
Như mọi người hẳn cũng có thể hình dung ra, tôi đã từ bỏ hầu hết các phần trù liệu sẽ thực hiện trong phần còn lại của chuyến tham quan của mình - những thú tiêu khiển phong cảnh, kiến trúc, và đồ cổ mà tôi từng hết sức kỳ vọng sẽ được tận hưởng. Tôi cũng không dám tìm thứ trang sức kì lạ mà theo lời đồn thì được cất giữ trong bảo tàng Đại học Miskatonic. Tuy nhiên, tôi đã cải thiện quãng thời gian lưu lại ở Arkham bằng cách thu thập một số ghi chú về phả hệ mà mình đã muốn sở hữu từ lâu; không thể phủ nhận dữ liệu thu được rất thô sơ và ẩu tả, nhưng có thể sẽ hữu dụng sau này, khi tôi có thời gian để đối chiếu và hệ thống hóa chúng. Người quản lý hiệp hội lịch sử ở đó - ông E. Lapham Peabody - đã rất lịch sự hỗ trợ tôi, và tỏ vẻ hứng thú lạ thường khi tôi nói rằng mình là cháu trai của Eliza Orne ở Arkham, sinh năm 1867 và kết hôn với James Williamson ở Ohio năm mười bảy tuổi.
Có vẻ như nhiều năm trước, một người bác bên ngoại của tôi đã ghé qua đây trong một chuyến đi giống như tôi đang thực hiện; và dân địa phương phần nào tò mò về gia đình bà ngoại tôi. Ông Peabody cho biết thiên hạ đã bàn ra tán vào rất nhiều về cuộc hôn nhân tổ chức ngay sau Nội Chiến của cha bà, cụ Benjamin Orne; vì cô dâu có gốc gác cực kì khó hiểu. Cô dâu đó được biết đến là một cô gái mồ côi nhà Marsh ở New Hampshire - một người họ hàng của gia đình Marsh tại hạt Essex - nhưng bà cố tôi đi học ở Pháp và biết rất ít về gia đình mình. Một người giám hộ gửi tiền vào một ngân hàng ở Boston để chu cấp cho bà cố cũng như bà bảo mẫu người Pháp; tuy vậy dân Arkham chưa ai từng nghe đến tên người giám hộ đó, và một thời gian sau thì ông ta biến mất, nên người bảo mẫu đảm nhận vai trò của ông ta theo lệnh của tòa án. Người phụ nữ Pháp kia - nay đã mất từ lâu - rất lầm lì ít nói, và một số người nói rằng có thể bà ta biết nhiều hơn những gì mình tiết lộ.
Nhưng điều khó hiểu nhất là không ai biết được cha mẹ trên giấy tờ của bà cố tôi - Enoch và Lydia (nhũ danh: Meserve) Marsh - thuộc về gia đình nào trong số các gia đình đã được biết đến ở New Hampshire. Nhiều người cho rằng bà cố rất có thể là con gái của gia đình Marsh nổi tiếng nào đó - bà chắc chắn có đôi mắt của một thành viên nhà Marsh đích thực. Nghi ngờ chủ yếu nảy sinh sau khi bà chết trẻ, xảy ra lúc ngoại tôi chào đời - đứa con duy nhất của bà. Sau khi đã hình thành một số ấn tượng chẳng tốt đẹp gì về cái tên Marsh, tôi không mấy hoan nghênh cái tin nó nằm trên cây gia hệ của chính mình; và tôi cũng không thấy hài lòng khi ông Peabody bảo rằng chính tôi cũng có đôi mắt đích thực của một thành viên nhà Marsh. Tuy nhiên, tôi rất biết ơn vì đã nắm được dữ liệu này, vì tôi biết sau này chúng sẽ hữu ích; và tỉ mỉ ghi lại hàng bao ghi chú cũng như thu thập danh sách các tài liệu tham khảo liên quan đến gia tộc Orne, một gia đình với nguồn tài liệu ghi chép phong phú.
Tôi đi thẳng từ Boston về nhà ở Toledo, và rồi đến Maumee ở một tháng để tĩnh dưỡng sau trải nghiệm bão táp của mình. Vào tháng Chín, tôi vào Đại học Oberlin để học năm cuối, và từ đó đến tháng Sáu năm sau vùi đầu trong nghiên cứu cũng như các hoạt động lành mạnh khác - chỉ thỉnh thoảng mới bị gợi nhớ về nỗi kinh hoàng trong quá khứ khi phải đón tiếp các nhân viên chính phủ có liên quan đến chiến dịch mà những lời khẩn cầu cùng với bằng chứng của tôi đã khơi mào. Vào khoảng giữa tháng Bảy - chỉ một năm sau trải nghiệm tại Innsmouth - tôi dành một tuần sống với gia đình người mẹ quá cố của mình ở Cleveland; đối chiếu một số dữ liệu phả hệ mới của mình với các ghi chú, truyền thuyết, và những món đồ gia truyền có ở đó, và xem mình có thể dựng lên được thứ biểu đồ kết nối nào hay không.
Tôi không thực sự thích thú gì công việc này, vì bầu không khí tại nhà Williamson luôn làm tôi cảm thấy phiền muộn. Ở đó có nét gì không lành mạnh, và mẹ chưa bao giờ khuyến khích tôi đến thăm ông bà hồi tôi còn nhỏ, mặc dù mẹ tôi luôn chào đón cha mình khi ông đến Toledo. Tôi từng cảm thấy người bà quê Arkham của mình thật kì lạ, có phần còn đáng sợ nữa, và tôi không nghĩ mình lấy làm buồn khổ gì khi bà biến mất. Hồi đó tôi mới tám tuổi, người ta nói rằng bà đã bỏ đi vì quá sầu muộn sau vụ tự tử của bác Douglas, con trai trưởng của bà. Bác đã tự sát bằng súng sau một chuyến đi tới New England - chắc chắn chính nhờ chuyến đi ấy mà Hiệp hội Lịch sử Arkham mới nhớ đến bác.
Người bác này trông giống bà, và tôi cũng chưa bao giờ thích bác cả. Có nét gì đó trong cái kiểu nhìn chòng chọc, không chớp mắt của cả hai người bọn họ khiến tôi cảm thấy một nỗi bất an mơ hồ, không thể lý giải được. Mẹ tôi và cậu Walter không trông như thế. Họ giống như cha mình, mặc dù Lawrence - con trai cậu Walter - thì lại là một bản sao gần như hoàn hảo của bà tôi, trước khi tình trạng của Lawrence buộc cậu ta phải vĩnh viễn đến sống ẩn dật tại một viện điều dưỡng ở Canton. Đã bốn năm nay tôi chưa gặp em họ mình rồi, nhưng cậu tôi từng ám chỉ rằng tình trạng của cậu ta, cả về tinh thần lẫn thể chất, đều rất tồi tệ. Chắc mối lo này là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của mẹ cậu ta hai năm trước.
Hiện nay gia đình ở Cleveland chỉ bao gồm ông ngoại và người cậu góa vợ Walter của tôi, nhưng ký ức thời xưa vẫn bao phủ dày đặc nơi đây. Tôi vẫn không thích nơi này, và cố gắng hoàn thành nghiên cứu của mình nhanh nhất có thể. Ông ngoại cung cấp cho tôi rất nhiều hồ sơ và truyền thuyết của nhà Williamson; mặc dù riêng với các tài liệu về nhà Orne thì tôi phải phụ thuộc vào cậu Walter của mình, và cậu đã cho tôi tùy ý sử dụng tất cả những gì có trong hồ sơ của ông, bao gồm ghi chú, thư từ, các mẩu báo cắt, vật gia truyền, ảnh, và tranh tiểu họa.
Chính trong lúc xem xét những lá thư và tranh ảnh bên phía nhà Orne, tôi bắt đầu trở nên hãi sợ gốc gác của chính mình. Như tôi đã nói, bà ngoại và bác Douglas vốn luôn làm tôi thấy không thoải mái. Bây giờ, sau khi họ đã mất nhiều năm, gương mặt trong ảnh của họ được tôi nhìn ngắm với một cảm giác ghê tởm và xa lạ gấp bội. Mới đầu tôi không thể hiểu nổi sự thay đổi ấy, nhưng dần dần một sự so sánh khủng khiếp bắt đầu lèn vào trong khối óc vô thức của tôi, cho dù phần tâm trí có ý thức của tôi dứt khoát không chịu thừa nhận mối nghi ngờ ấy chút nào. Rõ ràng là bây giờ, nét biểu cảm điển hình của những khuôn mặt này đã bắt đầu khơi gợi lên một điều mà trước nay chúng chưa từng gợi ra - một điều sẽ khiến cơn hoảng loạn tột độ ập đến nếu suy nghĩ về nó một cách quá công khai.
Nhưng cú sốc nặng nề nhất chỉ giáng xuống khi cậu Walter cho tôi xem các món trang sức nhà Orne được cất trong két an toàn ở trung tâm thành phố. Một số món khá tinh tế và khơi dậy hứng thú, nhưng có một hộp đựng đầy những món trang sức cổ kỳ lạ, truyền lại từ bà cố bí ẩn của tôi mà cậu Walter gần như không muốn trưng ra. Cậu nói chúng có thiết kế rất dị hợm, gần như gớm guốc, và theo như cậu tôi biết thì chưa bao giờ chúng được đeo công khai; mặc dù bà tôi hồi trước rất thích nhìn ngắm chúng. Có một số truyền thuyết mơ hồ về việc chúng mang đến vận rủi, và bảo mẫu Pháp của bà cố từng nói không nên đeo chúng ở New England, mặc dù đeo ở châu Âu thì sẽ khá an toàn.
Vừa bắt đầu chậm rãi và bất đắc dĩ mở chúng ra, cậu Walter vừa hối thúc tôi đừng bị sốc bởi sự quái lạ cũng như vẻ gớm ghiếc rất hay xuất hiện trong các mẫu thiết kế. Các nghệ sĩ và nhà khảo cổ học từng trông thấy những món đồ này đã tuyên bố rằng chúng được chế tạo bởi một bàn tay tài ba tột bậc và vô cùng tinh tế, mặc dù xem chừng không ai xác định nổi chúng cấu thành từ vật liệu gì hay gán được chúng vào với bất kì trường phái nghệ thuật cụ thể nào. Có hai vòng tay, một vương miện và một loại trang sức đeo ngực; khắc nổi trên món trang sức đeo ngực là một số hình nhân quái dị đến gần như ngoài sức chịu đựng.
Trong lúc màn mô tả diễn ra, tôi đã kiềm chế rất chặt cảm xúc của mình, nhưng mặt tôi hẳn đã để lộ nỗi sợ hãi mình cảm thấy trong lòng. Cậu Walter trông có vẻ lo lắng, và dừng mở đồ để nghiên cứu vẻ mặt của tôi. Tôi ra hiệu cho cậu tiếp tục, và cậu chiều ý, lại tỏ vẻ ngần ngừ. Dường như cậu dự kiến sẽ có một phản ứng gì đó xảy ra khi món đầu tiên - chiếc vương miện - lộ diện, nhưng tôi không nghĩ cậu mình lường trước được điều thực sự xảy ra. Bản thân tôi cũng không ngờ nổi điều đó, bởi tôi cứ tưởng mình đã được cảnh báo đầy đủ về việc món trang sức sẽ là thứ gì. Điều tôi làm là lặng lẽ ngất đi, hệt như những gì tôi từng làm trong cái nhánh đường sắt đầy bụi rậm một năm trước đó.
Kể từ ngày đó trở đi, cuộc sống của tôi biến thành một cơn ác mộng triền miên, đầy lo lắng và hãi sợ, tôi cũng chẳng biết bao nhiêu phần trong đó là sự thật gớm guốc và bao nhiêu phần là sự điên rồ. Bà cố của tôi từng là một thành viên nhà Marsh không rõ nguồn gốc, có chồng sống ở Arkham - chẳng phải lão Zadok đã nói rằng nhờ mánh lới nào đó, con gái của Obed Marsh với bà vợ quái thai đã được gả cho một người đàn ông Arkham đó sao? Gã bợm nhậu già đã lẩm bẩm gì về việc mắt tôi giống với mắt của Thuyền trưởng Obed nhỉ? Ở Arkham, người quản lý cũng đã nói rằng tôi sở hữu đôi mắt đích thực của một thành viên nhà Marsh. Có khi nào Obed Marsh là ông tổ của tôi không? Thế thì ai - hay thứ gì - là bà tổ của tôi? Nhưng có thể tất cả những điều này chỉ là sự điên rồ. Những món trang sức vàng trắng đó hoàn toàn có thể đã được cha của bà cố tôi, bất kể ông là ai, mua lại từ một tay thủy thủ Innsmouth nào đó. Và cái nét trong khuôn mặt dõi mắt nhìn chòng chọc của bà ngoại tôi cũng như người bác đã tự sát có thể chỉ do tôi đơn thuần tưởng tượng ra mà thôi - trí tưởng tượng thuần túy, được củng cố bởi sự tăm tối tại Innsmouth, khiến cho đầu óc của tôi trở nên u ám hẳn. Nhưng tại sao bác tôi lại tự sát sau một chuyến đi tìm hiểu phả hệ tại New England cơ chứ?
Suốt hơn hai năm, tôi kháng cự lại những suy nghĩ ấy và đã phần nào thành công. Cha xin cho tôi vào làm trong một văn phòng bảo hiểm, và tôi vùi mình vào lề thói công việc sâu hết mức có thể. Tuy nhiên, vào mùa đông cuối năm 1930 đầu năm 1931, những giấc mơ bắt đầu xuất hiện. Mới đầu chúng rất thưa thớt và âm thầm, nhưng cứ mỗi tuần trôi qua, tần suất và độ sống động của chúng lại tăng lên. Những vùng không gian nước mênh mông mở ra trước mắt tôi, và tôi như lang thang qua những mái cổng và mê cung khổng lồ chìm dưới nước, cấu thành từ những bức tường ngoại cỡ bám đầy cỏ dại, và đi cùng tôi là những con cá dị hợm. Thế rồi các hình dạng khác bắt đầu xuất hiện, khiến tôi tràn ngập một nỗi kinh hoàng vô danh ngay khi thức dậy. Nhưng trong những giấc mơ, chúng không làm tôi kinh hãi chút nào - tôi hòa chung với chúng; mặc những bộ lễ phục phi nhân của chúng, đi trên những con đường ngập nước của chúng, và cầu nguyện một cách quái dị tại những ngôi đền dưới đáy biển xấu xa của chúng.
Có nhiều hơn những gì tôi có thể nhớ, nhưng ngay cả những gì tôi lưu giữ trong đầu mỗi sáng cũng đủ để khiến tôi trở thành một kẻ điên hoặc một thiên tài nếu dám ghi lại nó. Tôi có cảm tưởng là một thế lực đáng sợ nào đó đang tìm cách dần kéo tôi ra khỏi thế giới tỉnh táo của sự sống lành mạnh, vào trong những vực thẳm không thể nêu danh của bóng tối và sự xa lạ. Quy trình đó tác động vô cùng nặng nề đến tôi. Sức khỏe và ngoại hình của tôi ngày càng tệ đi, cho đến cuối cùng tôi buộc phải từ bỏ công việc của mình và chấp nhận cuộc sống tĩnh lặng, biệt lập của một người tàn phế. Một chứng bệnh thần kinh kì lạ nào đó đã xâm chiếm lấy tôi, và đôi lúc tôi gần như không thể nhắm mắt.
Đó là lúc tôi bắt đầu ngày một hoảng hốt khi soi gương. Nhìn ngắm quá trình tàn phá chậm rãi của bệnh tật không phải là điều dễ chịu, nhưng trường hợp của tôi thì quá trình này còn mang nét gì đó quỷ quyệt và khó hiểu hơn. Cha tôi dường như cũng nhận thấy điều đó, vì ông bắt đầu nhìn tôi với ánh mắt lạ thường và gần như sợ hãi. Điều gì đang xảy ra với tôi vậy? Có khi nào tôi đang trở nên giống như bà ngoại và bác Douglas của mình không?
Một đêm nọ, tôi có một giấc mơ kinh hoàng, trong đó tôi gặp bà ngoại mình dưới biển. Bà sống trong một cung điện lân quang với nhiều sân hiên, những khu vườn san hô kì lạ và hoa có nhánh dị hợm, bà chào đón tôi với một sự nồng ấm chưa biết chừng là nhạo báng. Bà đã thay đổi - giống như sự thay đổi của những người xuống dưới nước - nói với tôi rằng bà chưa từng chết bao giờ cả. Thay vào đó, bà đi đến một nơi mà đứa con trai quá cố của bà đã biết đến, và nhảy tới một cõi với những kỳ quan đã bị bác vứt bỏ với một khẩu súng lục bốc khói, mặc dù chúng cũng dành cho cả bác nữa. Đây cũng sẽ là cõi của tôi - tôi không thể thoát khỏi nó. Tôi sẽ không bao giờ chết đi, mà sẽ sống cùng với những kẻ đã tồn tại từ thời trước khi con người xuất hiện trên Trái Đất.
Tôi cũng gặp thứ từng là bà tổ của mình. Suốt tám mươi nghìn năm, Pth’thya-l’yi đã sống ở Y’ha-nthlei, và bà đã quay trở lại đó sau khi lão Obed Marsh chết. Y’ha- nthlei không bị hủy diệt khi những người trên mặt đất phóng cái chết xuống dưới lòng biển. Nó bị tổn thương, nhưng không bị hủy diệt. Các Đại Đấng Dưới Sâu không bao giờ có thể bị hủy diệt, mặc dù ma thuật kỷ Cổ cận của các Đại Đấng Cổ Xưa đã bị lãng quên đôi khi có thể chế ngự chúng. Bấy giờ chúng sẽ nghỉ ngơi; nhưng một ngày nào đó, nếu chúng nhớ, chúng sẽ lại trỗi dậy để thực hiện lễ triều cống mà Cthulhu vĩ đại thèm muốn. Lần tới sẽ là một thành phố lớn hơn Innsmouth. Chúng đã lên kế hoạch lan tỏa đi khắp nơi, và đã đưa thứ sẽ giúp mình lên cạn, nhưng bây giờ chúng lại phải chờ đợi. Tôi sẽ phải đền tội vì đã mang đến cái chết của những người trên mặt đất, nhưng hình phạt sẽ không nặng nề. Chính trong giấc mơ này, lần đầu tiên tôi nhìn thấy một shoggoth, và cảnh tượng ấy khiến tôi choàng tỉnh trong một cơn la hét điên cuồng. Sáng hôm đó, chiếc gương khẳng định chắc chắn với tôi rằng tôi đã có diện mạo Innsmouth.
Cho đến nay, tôi vẫn chưa tự bắn mình như bác Douglas của tôi đã làm. Tôi mua một khẩu súng tự động và suýt nữa thì đã thực hiện bước này, nhưng một số giấc mơ đã ngăn cản tôi. Nỗi kinh hoàng đang dần không còn căng thẳng đến tột độ nữa, và quái lạ thay, tôi cảm thấy mình bị những vùng đáy biển sâu chưa biết lôi cuốn thay vì làm cho hãi sợ. Tôi nghe và làm những điều kì lạ trong giấc ngủ, rồi thức dậy trong một trạng thái hớn hở thay vì hãi hùng. Tôi không tin mình cần đợi tới lúc đã thay đổi hoàn toàn như hầu hết những người khác. Nếu tôi làm thế, cha có lẽ sẽ nhốt tôi trong một viện điều dưỡng, giống như người em họ đáng thương của tôi đã bị nhốt. Những sự huy hoàng kì diệu và chưa từng được biết đến đang chờ đợi tôi bên dưới, và tôi sẽ sớm tìm đến với chúng. Iä-R’lyeh! Cthulhu fhtagn! Iä! Iä! Không, tôi sẽ không tự sát - tôi không thể bị buộc cho tự sát được!
Tôi sẽ lên kế hoạch giúp em họ mình trốn thoát khỏi cái trại thương điên ở Canton đó, và chúng tôi sẽ cùng nhau đi đến Innsmouth diệu kỳ. Chúng tôi sẽ bơi ra rạn san hô u ám đang chìm trong biển và lặn xuống những vực thẳm đen ngòm để đến Y’ha-nthlei khổng lồ với nhiều trụ cột, và trong cái hang ổ ấy của các Đại Đấng Dưới Sâu, chúng tôi sẽ vĩnh viễn sống giữa những kỳ quan và tiên cảnh.
Ảnh minh họa Innsmouth, không rõ tác giả
Theo luật hàng hải xưa, khi xảy ra xung đột vũ trang, các thiết bị, phương tiện, tàu thuyền, và hàng hoá của phe đối nghịch bắt được có thể trao lại cho chính quyền sở tại để đổi lấy phần thưởng một cách hợp pháp. ↩
Paradise Lost: Thiên trường ca của thi sĩ người Anh thế kỷ 17 John Milton (1608 – 1674). ↩
Gustave Doré (1832 - 1883): Hoạ sĩ, nhà điêu khắc người Pháp. ↩
Edgar Allan Poe (1809 - 1849): Nhà văn, biên tập viên, nhà phê bình văn học người Mỹ. ↩
Edward Budwer-Litton (1803 - 1873): Nhà văn, chính trị gia người Anh. ↩
Hoá thạch người Piltdown là những mảnh vỡ gồm các bộ phận của hộp sọ và xương hàm, được công bố là đã thu thập vào năm 1912 từ một mỏ sỏi ở Piltdown, Đông Sussex, Anh Quốc. Các mảnh xương này đã được trưng bày như là hóa thạch của một người tiền sử chưa từng được biết đến. Nhưng vào năm 1953, các nhà khoa học xác định mẫu vật này là giả tạo, chỉ bao gồm xương hàm dưới của đười ươi cố tình kết hợp với hộp sọ của con người hiện đại phát triển đầy đủ. Nhà văn H. P. LOVECRAFT viết truyện ngắn Dagon này vào năm 1917 - thời điểm màn lừa đảo “hóa thạch người Piltdown” chưa bị phát giác. ↩
Một dân tộc cổ đại sống tại bờ Nam của Canaan (ngày nay là Liban, Israel, Palestine, phần phía Tây Jordan và Tây Nam Syria) từ thế kỷ 12 TCN đến năm 604 TCN. ↩
Tên viết tắt của bang Louisiana thuộc Mỹ. ↩
James George Frazer (3854 - 1941); Nhà nhân học xã hội và nghiên cứu dân gian người Scotland. Ông có ảnh hưởng lớn trong giai đoạn đầu của các nghiên cứu hiện đại về thần thoại và tôn giáo So sánh. Tác phẩm của ông được nhắc đến trong truyện có tên gốc là The Golden Bough. ↩
Margaret Murray (1863 – 1963): Nhà nhân chủng học, sử học và văn học dân gian người Anh-Ấn. Bà là người phụ nữ đầu tiên được bổ nhiệm làm giảng viên khảo cổ học tại Vương quốc Anh. Tác phẩm của bà được nhắc đến trong truyện có tên gốc là The Witch-Cult in Western Europe. ↩
Một trong những đô thị tồn tại sớm nhất của người Phoenicia, từ khoảng 2000 năm TCN ↩
Jean Latte (1780 - 1823): Một tên cướp biển người Pháp ở khu Vịnh Mexico vào đầu thế kỉ 19. ↩
Pierre Le Moyne d’berville (1661 - 1706): Nhà thám hiểm người Canada gốc Pháp trong giai đoạn thế kỉ 17. ↩
Rene-Robert Cava-lier, Sieur de La Salle (1643 - 1687): Nhà thám hiểm người Pháp thời thế kỉ 17 ở Bắc Mỹ. ↩
Sidney Sime(1865 – 1941): Nghệ sĩ người Anh giai đoạn cuối thế kỉ 19 - đầu thế kỉ 20, nổi tiếng với các tác phẩm nghệ thuật kì ảo và châm biếm. ↩
Anthony Angarola (1893 - 1929): Hoạ sĩ người Mỹ giai đoạn đầu thế kỉ 20. ↩
Arthur Machen (1863 - 1947): Bút danh của Arthur Llewellyn Jones, tác giả người Wales nổi tiếng với các tác phẩm kinh dị, siêu nhiên. ↩
Clark Ashton Smith (1893 - 1961): Nhà văn, nghệ sĩ người Mỹ giai đoạn đầu thế kỉ 20. ↩
Phố cổ là khu dân cư nằm trong nội đô của Oslo. Khu vực này được gọi đơn giản là Oslo đến trước năm 1925, trong khi toàn bộ thành phố thời điểm đấy mang tên Kristiania. ↩
Một toà thành cổ nằm trên một mỏm đá phía trên thành phố Athens. ↩
Theo thần thoại Hy Lạp, Polyphemus là người khổng lồ một mắt (cyclops), con trai thần biển Poseidon. Trong sử thi Odyssey, Polyphemus được miêu tả là kẻ man rợ ăn thịt người và đã ăn thịt một số người trong đoàn của Odysseus khi họ cập đảo của hắn trong chuyến hành trình hồi hương sau cuộc chiến thành Troy. Odysseus bày mưu lừa được Polyphemus và trốn thoát. ↩
Trong thần thoại Hy Lạp, Tartarus là vực sâu thẳm, tối tăm nhất chốn âm giới của thần Hades. ↩
Gorgon; Quái vật trong thần thoại Hy Lạp có tóc là những con rắn độc, biến bất kì ai nhìn vào sẽ bị biến thành đá. ↩
Hydra: con mãng xà nhiều đầu trong thần thoại Hy Lạp. Cứ mỗi khi có đầu bị chặt đi, Hydra sẽ mọc lại hai đầu mới. ↩
Chimaera: Quái vật lai giữa sư tử, dê, và rắn trong thần thoại Hy Lạp. ↩
Harpy: Quái vật nửa người và nửa chim trong thần thoại Hy Lạp, hiện thân của gió bão, Celaeno là tên của một Harpy xuất hiện trong thần thoại. ↩
Một Thiên thần sa ngã, kẻ đã cho con người biết các kiến thức cấm kỵ. ↩
Một thuật ngữ do H. P. Lovecraft tự sáng tạo ra để chỉ quỷ. ↩
Trong các tài liệu thần học, chủ yếu là cơ Đốc giáo, Beelzebub đôi khi là một tên gọi khác của quỷ, tương tự như Satan. Beelzebub được biết đến trong quỷ học là một trong bảy hoàng tử của Địa ngục. ↩
Thuật ngữ chỉ ác quỷ trong các tài liệu Do Thái và cơ Đốc giáo. ↩
Một bộ lạc thổ dân da đỏ lớn từng sống ở các khu vực phía tây của Massachusetts ngày nay. ↩
Một ngày lễ thánh của cơ Đốc giáo, được mừng vào ngày thứ 40 sau lễ Giáng Sinh, kỷ niệm ngày Chúa Jesus được dâng vào Đền Thờ Thánh. ↩
Đêm trước ngày lễ tưởng niệm của Thánh walpurgis (1/5). ↩
Ngày lễ được tổ chức tại một số quốc gia nói tiếng Anh ở Bắc bán cầu vào ngày 1 tháng Tám, đánh dấu vụ thu hoạch lúa mì đầu tiên trong năm. ↩
Ngày Lễ Thánh Giá của Công giáo. ↩
(Tiếng Latinh) Dịch hại lầm lũi đi trong bóng tối. ↩
Chiến tranh Hoa Kỳ - Anh Quốc, hay còn được gọi với cái tên Chiến tranh năm 1812, là cuộc xung đột vũ trang giữa các lực lượng quân đội Hoa Kỳ và quân đội Đế quốc Anh, diễn ra từ 18/6/1812 đến 17/2/1815. ↩
Boston and Maine Railroad: Một công ty đường sắt của Mỹ ở phía Bắc New England. ↩
Một nhà ga ở Rowley, Massachusetts. Đây là trạm áp chót trên nhánh Newburyport của tuyến Newburyport/Rockport. ↩
Croesus: Vị vua cuối cùng của xứ Lydia (vương quốc thời đồ sắt nằm ở phía Tây Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), trị vì từ năm S60 TCN đến năm 546 TCN, được biết đến và khối của cải khổng lồ. ↩
Thời kỳ nước Anh nằm dưới sự trị vì của vua Edward VII (1901 – 1910), đôi khi lại được tính kéo dài đến khi Thế Chiến I bắt đầu (1914). ↩
Truyện liên quan
Arcadia – Ba Năm Sau Khi Khai Mở, Tôi Mới Bắt Đầu Chinh Phục Thế Giới Ảo
Thiết bị game VR【Arcadia】, thiết bị đầu tiên và duy nhất trên thế giới hiện thực hóa thế giới ảo.. ...
Trở Thành Hướng Dẫn Viên Của Kẻ Phản Diện Mắc Bệnh Sạch Sẽ? Tuyệt Đối Không!
Tóm tắt. Tôi tỉnh dậy và nhận ra mình đã xuyên vào một trò chơi mô phỏng lấy bối cảnh ...
Tôi Chưa Bao Giờ Muốn Có Con Với Anh Ấy
Tóm tắt. Nàng đã muốn tìm đến cái chết.
Phép Biện Chứng Giữa Ông Chủ Và Nô Lệ
Tóm tắt. ※ Tác phẩm này có chứa những phân cảnh có thể gây tranh cãi, bao gồm các yếu ...
Mồi Săn (Lee Seohan)
Tóm tắt. “Thật khủng khiếp. Người chồng này và cuộc hôn nhân này.”.
Chuyện Gì Đã Xảy Ra Với Vị Bạo Chúa Sau Khi Vị Hoàng Hậu Mang Thai Bỏ Đi
Tóm tắt. Nàng đã tự dâng mình cho kẻ thù để cứu lấy đất nước.