Lời Hiệu Triệu Của CTHULHU - Chương 3: NỖI KINH HOÀNG TẠI DUNWICH

NỖI KINH HOÀNG

TẠI DUNWICH

“Gorgon, và Hydra, và Chimaera - những câu chuyện tàn khốc về Celaeno và các Harpy - có thể sẽ xuất hiện trong đầu óc của những kẻ mê tín dị đoan - nhưng chúng đã từng ở đó từ trước rồi. Chúng là các bản sao, loại hình - khuôn mẫu đã tồn tại sẵn trong chúng ta, và trường tồn bất diệt. Nếu không thì sao một câu chuyện lại có thể tác động được đến chúng ta, bất chấp khi thức tỉnh, ta biết rõ nó là chuyện bịa? Có phải ta cảm thấy kinh hãi trước những thứ như vậy theo bản năng, tin rằng chúng có thể gây ra thương tổn cho mình không? Hỡi ôi, không hề đâu! Những nỗi kinh hoàng ấy có tuổi đời cổ hơn. Chúng có từ thời trước khi thân xác tồn tại - hay kể cả nếu không có cơ thể, chúng vẫn sẽ tồn tại như thế…. Việc những nỗi sợ hãi đề cập đến ở đây hoàn toàn mang tính tâm linh thuần túy, việc chúng càng phi vật thể bao nhiêu thì lại càng mạnh mẽ bấy nhiêu, và việc chúng thống trị cái thuở trứng nước thánh thiện của chúng ta là những khó khăn mà nếu giải quyết được, có thể ta sẽ phần nào hiểu được tình cảnh trước thuở khai thiên lập địa của mình, đồng thời tối thiểu cũng sẽ nhìn thấu được vào trong miền đất tăm tối của thời tiền tồn tại, dù chỉ là cái liếc nhìn thoáng qua.”

Phù thủy và những nỗi sợ hãi khác

của màn đêm

- I -

Nếu du khách nào ở mạn trung bắc Massachusetts mà rẽ nhầm đường tại ngã ba của đại lộ Aylesbury, đoạn ngay quá Dean’s Corners, họ sẽ đặt chân đến một miền quê hoang vắng và lạ lùng.

Nền đất dâng lên cao hơn, những bức tường đá bị thạch nam phủ quanh càng lúc càng ép sát vào rãnh mòn của con đường bụi bặm và quanh co. Mép rừng thường xuyên xuất hiện, và cây cối trong đấy cứ trông như thể to quá khổ, các chủng cỏ dại cùng bụi gai mang vẻ um tùm vốn ít khi thấy tại các khu vực có người sinh sống. Đồng thời, các cánh đồng được cày cấy cực kì hiếm thấy xuất hiện, và lại còn cằn cỗi đến lạ; trong khi những ngôi nhà phân tán rất thưa mang diện mạo cũ kĩ, dơ dáy, và lụp xụp đồng bộ đến đáng ngạc nhiên.

Chẳng rõ vì sao, ta sẽ ngần ngại không muốn hỏi đường những con người xương xẩu, đơn độc, thi thoảng vẫn dõi mắt nhìn ra từ trên những bậc cửa ọp ẹp hay đồng cỏ dốc, ngổn ngang đá. Những người đó im lìm và trông lấm la lấm lét đến mức ta không khỏi cảm thấy như thể mình đang giáp mặt với điều cấm kị nào đó, tốt nhất không nên dây dưa vào. Ở những chỗ con đường dâng lên, khiến cho các ngọn núi phía trên khu rừng sâu lọt vào trong tầm mắt, cái cảm giác bất an kỳ lạ lại tăng thêm. Các đỉnh núi quá tròn và đối xứng, không gợi được cảm giác thoải mái và tự nhiên. Đôi khi hằn in hết sức rõ nét trên nền trời là các vòng tròn kỳ lạ cấu thành từ những cột đá cao, xuất hiện trên hầu hết các đỉnh núi.

Giao với con đường là bao hẻm cùng khe núi với độ sâu khó vượt, và cây cầu gỗ thô sơ nào trông cũng đều rất đáng ngờ về độ an toàn. Khi con đường lại dốc xuống, những vùng đầm lầy mênh mang trải ra trước mắt, làm ta bất giác thấy không ưa ngay tức thì, và thậm chí còn gần như hãi sợ lúc đêm buông, khi những con chim đớp muỗi chẳng ai thấy bóng ríu rít kháo chuyện nhau và lũ đom đóm túa ra với số lượng nhiều bất thường để nhảy theo cái giai điệu khàn khàn, dai dẳng đến sởn gai ốc của đám ễnh ương cứ nheo nhéo cất giọng. Đường nét mảnh mai, loang loáng của vùng thượng lưu sông Miskatonic trông giống mãng xà đến lạ khi nó uốn mình chảy gần chân những quả đồi hình vòm vây xung quanh.

Khi những ngọn đồi đến gần hơn, ta sẽ để ý đến các bên sườn đầy cây rừng nhiều hơn là phần đỉnh có đá dựng. Những bên sườn đó lù lù xuất hiện đầy tăm tối và cheo leo, đến nỗi ai cũng chỉ muốn tránh thật xa, nhưng không có tuyến đường nào cho phép ta trốn được khỏi chúng. Ở đầu bên kia cây cầu có mái che, ta có thể thấy một ngôi làng nhỏ nằm giữa dòng suối và sườn dốc thẳng đứng của núi Round, lấy làm lạ trước cụm mái nhà hai mảng mục nát, cho thấy kiến trúc nơi đây bắt nguồn từ một thời kỳ xưa hơn khu vực lân cận. Thật chẳng mấy vững dạ khi nếu quan sát kĩ hơn, ta sẽ thấy hầu hết các ngôi nhà đều đã bị bỏ không và hoang phế, nhà thờ với tháp chuông đổ nát giờ đây là chốn ngự của một cửa hàng lôi thôi và cũng là duy nhất trong ấp. Chẳng ai dám tin tưởng cái đường hầm tù mù của cây cầu, ấy nhưng không có cách nào để tránh nó hết. Một khi đã đi qua cầu, ta sẽ khó mà không ngửi thấy một mùi ô uế đầy tởm lợm phảng phất quanh đường làng, như thể mùi hương nấm mốc và mục ruỗng dồn tụ lại suốt bao thế kỷ. Ai cũng nhẹ cả người khi được rời khỏi nơi này, men theo con đường hẹp quanh chân các ngọn đồi và băng qua vùng đồng quê bằng phẳng đằng sau nó cho tới khi về lại đại lộ Aylesbury. Sau đó, ta đôi khi được biết rằng mình vừa mới đi qua Dunwich.

Người ngoài hạn chế ghé thăm Dunwich hết mức có thể, và sau cái lần một chuyện khủng khiếp nào đó xảy ra, tất cả các biển hiệu chỉ hướng về nơi này đều đã bị gỡ xuống. Nếu nhìn nhận dưới bất cứ tiêu chuẩn thẩm mĩ thông thường nào, phong cảnh nơi đây đẹp đến khác lạ; nhưng giới họa sĩ hoặc du khách dịp hè lại không ồ ạt đổ về đây. Hai thế kỷ trước, khi các câu chuyện về máu phù thủy, thờ phụng quỷ Satan, và những sự hiện diện kì lạ trong rừng hãy còn không bị cười nhạo, thiên hạ có tục nêu ra lý do để tránh khu ấy. Trong thời đại có nhận thức khôn ngoan của chúng ta - bởi vì vụ việc kinh hoàng tại Dunwich hồi năm 1928 đã được những người muốn tốt cho thị trấn cũng như thế giới ém nhẹm đi - ai nấy đều xa lánh nơi này mà chẳng biết chính xác tại sao. Có lẽ một lý do tiềm tàng - mặc dù chẳng thể gán lý do ấy cho những người lạ không hay biết gì hết - là đám dân bản địa hiện suy đồi đến phát tởm, đã tiến quá xa trên con đường phát triển thụt lùi vẫn hay thấy ở nhiều vùng quê tù túng tại New England. Họ đã tự mình hình thành một chủng tộc riêng, với những đặc điểm hết sức rõ rệt của sự thoái hóa và sinh sản cận huyết, cả về thể chất lẫn tinh thần. Mức độ thông minh trung bình của họ thấp thảm hại, trong khi lịch sử của họ đầy rẫy những câu chuyện dã man không chút úp mở cùng các vụ giết người, loạn luân, những hành động bạo tàn và suy đồi gần như không thể nêu danh chỉ được che đậy nửa vời. Giới tiểu quý tộc cổ, đại diện cho hai hoặc ba gia đình thân sĩ đã từ Salem đến đây hồi năm 1692, phần nào đỡ điêu tàn hơn đám quần chúng; mặc dù nhiều gia đình nhánh đã suy thoái, lún sâu vào trong đám dân bần tiện đến nỗi họ chỉ còn mỗi cái tên để cho thấy mình sa ngã từ đâu. Một số thành viên gia tộc Whateley và Bishop vẫn gửi con trai lớn của họ đến Harvard và Miskatonic, mặc dù những người con trai đó hiếm khi quay trở lại sống dưới những mái nhà hai mảng đổ nát, nơi họ và tổ tiên của họ được sinh ra.

Không ai, kể cả những người biết sự thật về câu chuyện kinh hoàng vừa xảy ra gần đây, có thể xác định được cụ thể vấn đề của Dunwich; dẫu cho các truyền thuyết xưa có nhắc đến những nghi lễ và các buổi mật nghị báng bổ thánh thần của đám thổ dân da đỏ, nơi chúng triệu hồi những dạng hình hắc ám đầy cấm kị từ trong những quả đồi tròn khổng lồ, và thực hiện những lời cầu nguyện trác táng đầy hoang dại, với lời đáp được nhận lại là những tiếng nứt răng rắc và ầm ầm ồn ã vọng lên từ bên dưới lòng đất. Vào năm 1747, Đức Cha Abijah Hoadley, linh mục mới đến nhà thờ Công giáo tại làng Dunwich, đã có một bài giảng đáng nhớ về sự hiện diện cận kề của Satan và lũ quỷ của hắn:

“Cần phải công nhận một điều là ai ai cũng đã biết về những hành động báng bổ của lũ quái vật đến từ ngục giới, không thể phủ nhận được gì nữa. Giọng lưỡi bị nguyền rủa của Azazel và Buzrae của Beelzebub và Belial từ dưới mặt đất được hàng chục nhân chứng đáng tin cậy trên dương thể nghe thấy, họ nay vẫn còn sống. Cách đây không quá hai tuần, bản thân ta cũng đã nghe được rất rõ ràng một cuộc chuyện trò giữa những thế lực xấu xa ở ngọn đồi phía sau nhà mình. Hàng loạt những tiếng rầm rầm và lăn lộn, rên rỉ, nghiến ken két, và rít xì xì, các thanh âm mà không tạo vật nào trên cõi đời này có thể phát ra, và chúng hẳn phải bắt nguồn từ những hang động mà chỉ ma thuật hắc ám mới có thể khám phá ra, và chỉ ác quỷ mới có thể mở khóa.”

Cha Hoadley biến mất ngay sau khi đưa ra bài giảng này; nhưng vì được in ở Springfield, nội dung bài giảng vẫn còn tồn tại. Hết năm này sang năm khác, người ta luôn báo lại rằng những tiếng ồn vẫn cứ tiếp tục xuất hiện trên các ngọn đồi, và chúng vẫn là một bài toán hóc búa đối với các nhà địa chất và địa văn học.

Một số truyền thuyết khác thuật lại rằng có mùi hôi thối bốc ra gần các vòng tròn đá trên đỉnh đồi, và có thể loáng thoáng nghe thấy tiếng những thực thể hư vô lướt vù vù qua vào một số giờ nhất định, văng vẳng vọng đến từ các điểm đã định ở dưới đáy các khe núi lớn. Trong khi vài truyền thuyết khác cố gắng lí giải Devil’s Hop Yard - một sườn đồi hoang vắng, tàn rụi, nơi không cây cối, bụi rậm, hay cọng cỏ nào mọc lên được. Bên cạnh đó, dân bản địa cũng sợ chết khiếp đám chim đớp muỗi với số lượng đông vô kể, cất giọng rất ồn ã trong những đêm ấm áp. Người ta thề rằng lũ chim ấy là những kẻ hộ tống của âm thế, nằm chờ chực linh hồn của những người sắp chết, và chúng căn tiếng hót kì lạ của mình với hơi thở nặng nhọc của người hấp hối. Nếu có thể bắt được linh hồn thoát li trong lúc nó rời khỏi cơ thể, chim đớp muỗi sẽ lập tức bay đi, ríu rít cười cợt đầy ác hiểm; nhưng nếu thất bại, chúng sẽ dần dần chìm vào sự im lặng đầy thất vọng.

Tất nhiên, những câu chuyện này nay đã lỗi thời và lố bịch; bởi chúng được truyền lại từ thời rất xa xưa. Dunwich thực sự cổ xưa ngoài sức tưởng tượng - cổ hơn bất kì cộng đồng nào trong phạm vi gần năm mươi cây số quanh nó. Ở phía Nam ngôi làng, ta vẫn có thể quan sát được các bức tường hầm và ống khói của nhà gia tộc Bishop cổ, xây dựng trước năm 1700. Gần chỗ thác nước, những tàn tích của mấy nhà máy được xây dựng vào năm 1806 là công trình kiến trúc hiện đại nhất mà ta có thể nhìn thấy. Công nghiệp không phát triển mạnh ở đây, và phong trào phát triển nhà máy xí nghiệp giai đoạn thế kỉ mười chín cũng chỉ sớm nở chóng tàn. Lâu đời nhất trong số đó là các vòng tròn lớn cấu thành từ những cột đá thô nhám trên đỉnh đồi, nhưng chúng thường được cho là do thổ dân da đỏ dựng lên chứ không phải dân đến định cư. Những chỗ chôn hộp sọ và xương xẩu được tìm thấy trong các vòng tròn này cũng như xung quanh các tảng đá lớn giống như bàn thờ trên đồi Sentinel càng giúp củng cố điều thiên hạ thường vẫn nghĩ, rằng những chốn đó từng là nghĩa trang của bộ lạc Pocomtuc; mặc dù nhiều nhà dân tộc học vẫn dứt khoát tin rằng chúng là hài cốt của người da trắng, bất chấp việc giả thuyết ấy cực kì khó xảy ra.

- II -

Tại tỉnh lị Dunwich, trong một nông trại lớn và neo người sinh sống được xây dựng trên sườn đồi cách ngôi làng hơn sáu cây số và xa gần hai cây số rưỡi với bất kì chốn có người cư ngụ nào khác, Wilbur Whateley được sinh ra vào năm giờ sáng Chủ Nhật, mùng 2 tháng Hai, 1913. Cái ngày ấy được ghi nhớ bởi lẽ nó rơi vào dịp Lễ Nến, mặc dù lạ một điều là người ở Dunwich lại kỉ niệm ngày lễ ấy dưới một tên khác; cũng bởi vì suốt đêm hôm trước, đủ thứ tiếng ồn ã đã rộ lên trên các quả đồi, và tất cả những con chó của miền đồng quê này cứ sủa liên hồi. Ít đáng chú ý hơn là việc người mẹ thuộc nhánh gia tộc Whateley đã suy thoái, một người phụ nữ bạch tạng ba mươi lăm tuổi, hơi dị dạng, không mấy xinh đẹp, sống với người cha già và nửa điên nửa khùng. Hồi người cha còn trẻ, thiên hạ đã nhỏ to đồn đại những câu chuyện hết sức đáng sợ về việc lão có dính dáng đến các trò ma pháp phù thủy. Không ai biết chồng Lavinia Whateley là ai, nhưng theo phong tục của khu vực, cô ta không hề chối bỏ con mình; đám dân quê kia thích đoán già đoán non thế nào về phần bên nhà nội đứa trẻ thì tùy, và quả đúng là họ đã làm vậy. Ngược lại là đằng khác, Lavinia có vẻ tự hào một cách kì lạ về đứa con đen đúa, trông cứ như dê, tương phản hoàn toàn với diện mạo bạch tạng ốm yếu và mắt hồng của mình. Thiên hạ nghe thấy cô ta lẩm bẩm nhiều lời tiên tri kỳ lạ về sức mạnh khác thường cũng như tương lai vĩ đại của nó.

Lavinia lẩm bẩm như vậy cũng chẳng có gì là lạ, bởi cô ta là một người lẻ loi, hay đi lang thang giữa những cơn giông bão trên đồi và cố gắng đọc mấy cuốn sách hăng hắc dày cộp mà cha mình được thừa kế, chúng cũ kĩ và đã bị mọt gặm lỗ chỗ đến mức rất dễ dàng bung hết ra. Những cuốn sách ấy được lưu truyền trong nhà Whateley này suốt hai thế kỷ nay. Cô ta chưa bao giờ đến trường lớp nào, mà chỉ được tiêm nhiễm những giai thoại truyền thuyết cổ xưa rời rạc do lão Whateley già dạy. Cái nông trại xa xôi ấy luôn bị người đời hãi sợ bởi lẽ lão Whateley già vốn khét tiếng biết sử dụng ma thuật hắc ám, và cái chết do bạo lực đầy bí hiểm của bà Whateley hồi Lavinia mười hai tuổi càng không giúp cải thiện danh tiếng nơi đó. Vì bị cô lập giữa những ảnh hưởng kì lạ, Lavinia rất thích mơ mộng về những thứ hoang dại và lớn lao, làm những chuyện dị thường. Trong một ngôi nhà từ lâu đã không còn bất cứ tiêu chuẩn nào về nền nếp ngăn nắp hay sạch sẽ nữa, cô ta cũng chẳng phải tốn quá nhiều thời gian chăm lo nhà cửa.

Vào cái đêm Wilbur được sinh ra, có một tiếng gào thét đáng ghê tởm vang vọng khắp nơi, át đi cả những âm thanh huyên náo trên đồi và tiếng chó sủa, nhưng không có bác sĩ hay bà đỡ nào ở bên khi thằng bé chào đời. Hàng xóm láng giềng chẳng hay biết gì về đứa trẻ cho đến tận một tuần sau, khi lão Whateley già lái chiếc xe trượt của mình qua tuyết vào làng Dunwich và nói năng huyên thuyên với đám vô công rồi nghề tại tiệm bách hóa Osborn. Lão dường như đã thay đổi - bộ não lú lẫn mang thêm nét gì đó đầy lén lút, ngầm biến lão từ một kẻ đáng sợ thành một kẻ hãi sợ - mặc dù lão vốn không phải là kiểu người dễ rung động trước các sự kiện gia đình thông thường, bất kể đó có là gì. Trong lúc nói chuyện, lão phần nào để lộ ra vẻ tự hào mà về sau người ta thấy con gái của lão cũng thể hiện, và đến cả bao năm sau, nhiều thính giả của lão vẫn nhớ những gì lão nói về cha của đứa trẻ.

“Tao không quan tâm thiên hạ nghĩ gì - nếu thằng cu của Lavinny mà trông hệt như ba nó, thằng nhỏ sẽ chẳng giống những gì tụi bây kỳ vọng chút nào đâu. Tụi bây chớ nghĩ dân quanh đây là những người duy nhất tồn tại trên đời. Lavinny đã đọc này đọc nọ, nhìn thấy những điều mà hầu hết tụi bây mới chỉ nghe kể đến. Tao tính chồng nó tử tế chẳng kém cạnh gì ai mà tụi bây có thể tìm được ở mạn này của Aylesbury đâu. Nếu tụi bây biết nhiều về những ngọn đồi như tao, tụi bây sẽ chẳng đòi hỏi một đám cưới nhà thờ nào tử tế hơn đám của nó đâu. Để tao cho tụi bây biết điều này - một ngày nào đó đám tụi bây sẽ nghe thấy một đứa con của Lavinny gọi tên cha nó trên đỉnh đồi Sentinel!”

Những người duy nhất nhìn thấy Wilbur trong tháng đầu đời của thằng bé là ông Zechariah Whateley già, bên nhánh gia tộc Whateley chưa lụi tàn, và Mamie Bishop, người vợ không hôn lễ của Earl Sawyer. Thật tình mà nói, Mamie ghé thăm chỉ vì tò mò, và những câu chuyện sau này bà ta kể lại cho thấy bà ta rất có mắt quan sát. Nhưng Zechariah đến để dẫn theo cặp bò Alderney mà lão Whateley già đã mua từ cậu con trai Curtis của ông ta. Vụ việc này là mốc khởi điểm của quá trình mua gia súc do gia đình nhỏ của Wilbur thực hiện, và nó chỉ kết thúc vào năm 1928, khi sự kiện kinh hoàng tại Dunwich đã xảy ra và chấm dứt; ấy nhưng cái chuồng trại xiêu vẹo của nhà Whateley chẳng bao giờ trông có vẻ đông đúc gia súc. Từng có một thời thiên hạ tò mò đến nỗi lén lại gần và đếm đàn gia súc gặm cỏ tại vị trí đầy chênh vênh trên sườn đồi dốc phía trên cái nông trại cũ, nhưng họ chẳng bao giờ thấy được nổi hơn mười hay mười hai con thú nhợt nhạt, nhìn thiếu máu. Rõ ràng là một chứng bệnh hay đau ốm gì đó, có khả năng khởi nguồn từ đồng cỏ thiếu vệ sinh hay nấm mốc bệnh và gỗ của cái chuồng bẩn thỉu, đã khiến cho lũ động vật nhà Whateley chết hàng loạt. Đám gia súc dân tình quan sát được xem chừng mang trên mình những vết thương hoặc vết loét kì lạ, trông có vẻ hơi giống các vết rạch; và một hay hai lần gì đó trong những tháng đầu, một số người ghé thăm cứ đinh ninh mình có thể trông thấy những vết loét tương tự quanh cổ họng lão già tóc bạc, râu ria xồm xoàm và cô con gái bạch tạng bẩn thỉu, tóc xù của lão.

Vào mùa xuân sau khi Wilbur chào đời, Lavinia lại tiếp tục lảm nhảm trên những ngọn đồi như thường lệ, bồng đứa trẻ đen đúa trên đôi tay quá khổ của mình. Mối quan tâm của thiên hạ đến gia đình Whateley bắt đầu lắng xuống sau khi hầu hết đám dân quê ấy đã nhìn thấy đứa bé, và không ai buồn bình phẩm về quá trình lớn thần tốc như diễn ra theo từng ngày của nó. Sự phát triển của Wilbur thực sự rất phi thường, bởi lẽ nội trong vòng ba tháng sau khi sinh, thằng nhóc đã sở hữu kích thước và sức mạnh cơ bắp hiếm đứa bé dưới một tuổi nào nắm giữ. Các chuyển động và thậm chí là cả thanh giọng của nó mang một nét thận trọng và khoan thai hết sức lạ kỳ đối với trẻ sơ sinh. Chẳng ai thực sự lấy làm bất ngờ khi lúc bảy tháng tuổi, Wilbur đã bắt đầu loạng choạng biết đi mà không cần ai giúp đỡ, và thêm một tháng nữa thì nó đi vững vàng hẳn.

Sau đó ít lâu - vào dịp Halloween - người ta trông thấy một ngọn lửa lớn xuất hiện trên đỉnh đồi Sentinel vào lúc nửa đêm, nơi có hòn đá cổ với hình dáng hệt như cái bàn nằm giữa nấm mồ chôn mớ xương cốt xưa cũ của nó. Thiên hạ rộ lên bàn tán xôn xao khi Silas Bishop - thuộc nhánh gia tộc Bishop chưa suy thoái - nói rằng anh ta đã nhìn thấy thằng bé Wilbur chạy phăm phăm trước mẹ mình trên ngọn đồi khoảng một giờ trước khi ngọn lửa xuất hiện trong tầm mắt. Silas bấy giờ đang lùa một con bò cái đi lạc đàn, nhưng anh ta thiếu chút nữa thì quên bẵng nhiệm vụ của mình khi thoáng thấy hai nhân vật kia trong ánh sáng tù mù của ngọn đèn lồng. Hai mẹ con nhà kia phóng qua các bụi cây gần như êm ru, và người theo dõi đầy sửng sốt có cảm tưởng như họ hoàn toàn không mặc chút quần áo nào. Về sau thì anh ta không thể nhớ chắc được về thằng bé nữa. Có khả năng lúc bấy giờ, nó đeo một chiếc thắt lưng tua rua và mặc quần cộc tối màu gì đó. Từ đấy về sau, trong suốt quãng thời gian Wilbur sống trên đời, chẳng một ai còn thấy thằng bé trong tình trạng thiếu thốn phục trang hay ăn mặc không chỉnh tề. Nếu áo quần mà có bị xộc xệch hay có khả năng sẽ bị xộc xệch, thằng bé sẽ luôn trở nên tức giận và hoảng hốt. Riêng về khoản này thì nó trái ngược hẳn với người mẹ cùng lão ông dơ dáy của nó, và dân tình thấy đây là một điểm rất lạ, cho đến khi họ được sự kiện đầy ác mộng năm 1928 cung cấp những nguyên do cực kỳ chí lý.

Tháng Một năm sau, thiên hạ lại rộ lên bàn tán khá xôm về việc “thằng cu đen nhẻm của Lavinny” đã bắt đầu biết nói, trong khi tuổi đời mới chỉ mười một tháng. Phong thái nói năng của đứa trẻ cũng ít nhiều đáng chú ý, bởi lẽ nó không chỉ khác với chất giọng phổ thông của miền đấy mà còn không mắc phải cái kiểu ngọng nghịu của bọn trẻ sơ sinh. Ngay cả trẻ con ba hay bốn tuổi mà làm được như vậy thì cũng đáng tự hào lắm rồi. Thằng bé không nói nhiều, nhưng mỗi khi mở miệng, nó dường như luôn bộc lộ tố chất bí hiểm nào đó mà Dunwich và các cư dân vùng này không hề sở hữu. Sự kì lạ không nằm ở nội dung những điều nó nói, hoặc thậm chí trong những câu thành ngữ đơn giản nó sử dụng; mà xem chừng liên quan đến ngữ điệu hay các cơ quan nội tạng phát ra tiếng nói của nó. Các đường nét trên mặt nó trông cũng già dặn đến lạ. Mặc dù nó cũng có một cái cằm lẹm như mẹ và ông mình, chiếc mũi mạnh mẽ và trưởng thành trước tuổi cùng nét biểu cảm trong cặp mắt to, đen sẫm, gần giống mắt dân Latinh của thằng bé tạo cho nó một vẻ hao hao người lớn và gần như thông minh siêu việt. Tuy nhiên, bất chấp diện mạo tài ba của mình, nó vẫn cực kỳ xấu xí. Đôi môi dày, làn da vàng vọt với các lỗ chân lông to, mái tóc quăn thô nhám, cùng cặp tai dài khác thường trông cứ na ná dê hoặc thú vật. Chẳng bao lâu sau, thằng bé thậm chí còn bị ghét hơn cả mẹ và ông mình. Mọi phỏng đoán xoay quanh nó đều được thêm mắm dặm muối với những câu chuyện về thứ ma thuật xa xưa mà lão Whateley già sử dụng, và cách những ngọn đồi từng có lần rung chuyển lúc lão rú lên cái tên Yog-Sothoth đáng sợ giữa một vòng tròn đá, trước mặt lão là một cuốn sách khổng lồ để mở trên tay. Lũ chó ghê tởm thằng bé, và nó luôn phải tìm đủ cách phòng vệ trước tiếng sủa của chúng.

- III -

Trong khi ấy, lão Whateley già vẫn tiếp tục mua gia súc, dù rằng số lượng vật nuôi của lão không tăng thêm mấy. Lão cũng đốn gỗ và bắt đầu sửa chữa những khu không ai dùng trong nhà mình - một ngôi nhà rộng rãi, mái nhọn, với chái phía sau bị xây thụt hẳn vào bên trong sườn đồi rải rác đá. Từ trước đến nay, lão và con gái vốn chỉ dùng ba phòng ít hư hại nhất ở tầng trệt mà thôi. Lão già hẳn phải sở hữu một sức mạnh phi thường thì mới có thể cáng đáng được nhiều công việc lao động cực nhọc nhường ấy. Dù đôi lúc lão vẫn lải nhải như người mất trí, song công cuộc sửa sang nhà cửa của lão cho thấy lão xem chừng đã lường trước tính sau rất kỹ lưỡng. Công việc này bắt đầu ngay từ khi Wilbur ra đời, lúc một trong nhiều nhà kho dụng cụ đột nhiên được sắp xếp lại rất ngăn nắp, đóng ván che, và trang bị một ổ khóa kiên cố mới tinh. Giờ đây, quá trình khôi phục lại khu tầng trên bị bỏ không của ngôi nhà cũng được lão già tiến hành cẩn thận chẳng kém. Lão chỉ bộc lộ cái chất gàn dở của mình khi đóng ván che kín mít tất cả các cửa sổ trong khu mới sửa - dẫu nhiều người bảo riêng việc phí công sửa lại khu ấy cũng đã đủ điên rồi. Bớt khó hiểu hơn là việc lão sửa lại một phòng khác ở dưới tầng cho đứa cháu trai của mình - vài người khách ghé thăm đã nhìn thấy căn phòng đó, dù không ai được cho lên khu tầng trên đóng ván. Bên trong căn phòng này, lão đóng đầy các kệ cao và chắc chắn; rồi lão bắt đầu xếp dần lên đấy tất cả những cuốn sách cổ mục nát cùng mấy tựa sách lẻ, hồi trước vốn bị lão chất đống bừa bãi ở đủ các góc phòng khác nhau, theo kiểu xem chừng rất quy củ.

“Tao có dùng đến chúng chút ít,” lão luôn nói vậy trong lúc loay hoay tìm cách dán một trang văn tự cổ bị rách bằng thứ hồ tự chế trên cái bếp lò gỉ sét, “nhưng thằng nhỏ rồi sẽ sử dụng được chúng hữu hiệu hơn. Cần phải sắp xếp ngăn nắp hết mức có thể cho thằng nhỏ, bởi tất cả những gì nó được học sẽ đều từ đấy mà ra cả.”

Khi Wilbur được mười chín tháng tuổi - vào tháng Chín năm 1914 - vóc dáng cũng như những gì thằng nhóc làm được đã lên đến ngưỡng đáng lo ngại. Nó lớn ngang một đứa trẻ bốn tuổi, đồng thời còn biết ăn nói rất trôi chảy và cực kỳ thông minh. Nó tự tung tự tác chạy rong trên khắp mọi cánh đồng và các quả đồi, luôn bám theo mẹ mình mỗi lần cô ta đi lang thang. Lúc ở nhà, thằng bé sẽ cần mẫn xem những bức tranh và biểu đồ kì quái trong sách của ông mình, còn lão Whateley già hướng dẫn và giáo huấn nó suốt những buổi chiều dài và im ắng. Lúc này thì công cuộc sửa sang lại ngôi nhà đã hoàn tất, và ai nhìn vào cũng đều băn khoăn không hiểu tại sao một trong những cửa sổ tầng trên lại bị đóng thành cánh cửa gỗ cứng. Đó là một cửa sổ ở phía sau đầu hồi đằng Đông, sát với ngọn đồi; và không ai mường tượng ra nổi tại sao ông lão lại xây thêm một đường lăn gỗ móc cọc chằng, dẫn từ mặt đất lên cái cửa đó. Vào khoảng giai đoạn công việc tu sửa được hoàn thiện, dân tình nhận thấy rằng cái kho dụng cụ cũ, vốn bị khóa chặt và bít kín cửa sổ kể từ khi Wilbur ra đời đến nay, đã lại bị bỏ không. Cánh cửa đong đưa đầy bơ phờ, để mở toang hoang, và có một lần, khi Earl Sawyer bước vào trong đấy sau khi đến nhà bán gia súc cho lão Whateley già, gã choáng váng cả người trước cái mùi hôi thối dị thường mà mình đụng phải - gã khẳng định rằng trước giờ gã mới chỉ ngửi thấy cái mùi như thế ở gần mấy vòng tròn của đám thổ dân da đỏ trên các ngọn đồi, và nó dứt khoát không thể bốc ra từ bất cứ thứ gì lành mạnh hay tồn tại trên cõi đời này. Nhưng xét cho cùng, nhà cửa và kho lán của dân Dunwich vốn cũng chẳng nức tiếng thơm tho gì cho cam.

Những tháng tiếp theo không có sự kiện nào đáng chú ý cả, ngoại trừ việc tất cả mọi người đều thề rằng những tiếng ồn bí ẩn trên đồi đã gia tăng, chậm rãi nhưng đều đặn. Vào Đêm Thánh Walpurgis năm 1915, xuất hiện những cơn rung chấn mà ngay cả người dân Aylesbury cũng cảm nhận được, còn Halloween năm sau thì xuất hiện những tiếng ầm ầm dưới lòng đất, trùng khớp đến lạ với những ngọn lửa bùng lên - “trò phù thủy do đám nhà Whateley làm đấy” - trên đỉnh đồi Sentinel. Wilbur cứ lớn lên theo một kiểu rất bất thường, khiến nó trông như một đứa bé mười tuổi khi mới sang tuổi thứ tư. Bây giờ nó tự đọc hau háu; nhưng ít nói hơn hẳn so với trước đây. Một bản tính trầm mặc đầy chín chắn xâm chiếm lấy nó, và lần đầu tiên thiên hạ bắt đầu bàn tán hẳn hoi về cái vẻ tàn ác đang dần xuất hiện trên khuôn mặt như dê của thằng nhóc. Đôi khi nó sẽ lẩm bẩm một thuật ngữ lạ và tụng những vần vè kỳ quái, khiến một nỗi kinh hoàng không thể lý giải được dấy lên trong lòng người nghe, làm họ không khỏi ớn lạnh. Sự thù ghét của lũ chó đối với thằng bé giờ đã nghiêm trọng hết sức, và nó buộc phải mang theo một khẩu súng lục thì mới có thể được an toàn mỗi khi đi đây đi đó trên miền quê này. Việc thằng nhóc thỉnh thoảng vẫn phải sử dụng món vũ khí của mình khiến nó chẳng được giới chủ chó quý mến gì.

Những vị khách ít ỏi tại ngôi nhà ấy thường sẽ thấy Lavinia thui thủi một mình ở tầng trệt, trong khi những tiếng kêu la và tiếng bước chân kỳ lạ cứ vang lên trong cái tầng hai bị đóng ván bít kín. Cô ta chẳng bao giờ chịu tiết lộ cha và con mình đang làm gì ở trên đó, mặc dù đã có một lần, cô ta tái nhợt và lộ vẻ sợ hãi bất thường khi một người bán cá đùa giỡn thử mở cánh cửa dẫn lên cầu thang, lúc ấy đang được khóa chặt. Người bán hàng nói với đám vô công rồi nghề chỗ cửa tiệm của làng Dunwich rằng ông ta chắc chắn đã nghe thấy tiếng một con ngựa giẫm đạp ở tầng trên. Đám vô công rồi nghề đăm chiêu ngẫm ngợi, nghĩ về cánh cửa và đường lăn, và về những con gia súc nhoằng một cái đã biến mất. Thế rồi họ rùng mình khi nhớ lại những giai thoại về lão Whateley già hồi lão còn trẻ, và về những tạo vật kì lạ được triệu hồi lên từ bên dưới lòng đất nếu đem hiến tế một con bò thiến cho một số đấng thánh thần tà giáo nào đấy vào đúng thời điểm thích hợp. Được một thời gian, thiên hạ để ý thấy rằng lũ chó bắt đầu căm ghét và hãi sợ toàn bộ ngôi nhà của đám Whateley dữ dội chẳng kém gì thái độ của chúng với thằng bé Wilbur.

Năm 1917, chiến tranh bùng nổ, và điền chủ Sawyer Whateley, với tư cách là chủ tịch hội đồng quân dịch địa phương, phải rất chật vật tìm sao cho đạt số lượng trai tráng Dunwich đủ khỏe mạnh để gửi đến trại huấn luyện. Lấy làm lo lắng trước những dấu hiệu cho thấy nguyên cả một vùng đã trở nên thoái hóa, chính phủ cắt cử một số sĩ quan và chuyên gia y tế đến để điều tra; triển khai một cuộc khảo sát mà các độc giả báo chí vùng New England hẳn vẫn còn nhớ. Chính nhờ sự đình đám của cuộc điều tra này mà giới phóng viên mới biết đến gia đình nhà Whateley, và khiến tờ Boston Globe cũng như Arkham Advertiser đăng tải những bài báo Chủ Nhật cường điệu về sự phát triển thần tốc của thằng bé Wilbur, ma thuật hắc ám của lão Whateley già, những gian kệ chứa đầy các cuốn sách kỳ lạ, khu tầng hai bị bít kín của nông trại cổ, và sự kì lạ của cả cái miền này cũng như những tiếng ồn trên các ngọn đồi nơi đây. Wilbur hồi ấy bốn tuổi rưỡi, và trông như một thanh niên mười lăm tuổi. Môi và má nó phủ một lớp râu lơ thơ thô sẫm màu, và giọng thì đã bắt đầu vỡ.

Earl Sawyer đến nhà của gia đình Whateley cùng với hai nhóm phóng viên và phó nháy, và bảo họ hãy để ý đến cái mùi xú uế kỳ quái mà lúc bấy giờ dường như tỏa xuống từ khu tầng trên kín mít. Gã nói nó giống hệt cái mùi gã từng thấy xuất hiện trong kho dụng cụ bị bỏ không lúc ngôi nhà cuối cùng cũng được sửa xong; và nó tương tự mấy cái hương phảng phất gã chắc chắn bản thân đôi khi vẫn ngửi thấy gần những vòng tròn đá trên núi. Dân làng Dunwich đọc các bài báo khi chúng được đăng, và cười bò trước những sai lầm đầy hiển nhiên. Họ cũng không hiểu tại sao tác giả các bài báo lại cứ quan trọng hóa việc lão Whateley già luôn trả tiền cho đám gia súc bằng những đồng vàng có niên đại vô cùng cổ xưa. Gia đình Whateley đã tiếp đón các vị khách với thái độ khó chịu không buồn giấu giếm, mặc dù họ không dám làm mọi chuyện thêm rùm beng bằng cách dùng bạo lực chống đối hay từ chối nói chuyện.

- IV -

Trong suốt một thập kỉ liền, các hoạt động của gia đình Whateley chìm biến vào cuộc sống thường nhật của một cộng đồng bệnh hoạn vốn đã quá quen với các lề thói kì quái của nhà này và chai sạn trước những cuộc truy hoan trong Đêm Thánh Walpurgis và Halloween của họ. Mỗi năm hai lần, họ lại đốt lửa trên đỉnh đồi Sentinel, và vào những dịp ấy, núi sẽ lại ầm ầm rung chuyển với cường độ ngày một dữ dội hơn. Quanh năm suốt tháng, tại cái nông trại lẻ loi kia luôn có những chuyện kì lạ và đáng quan ngại diễn ra. Trong quãng thời gian này, những người ghé thăm nhà họ đều nói là mình nghe thấy có âm thanh phát ra từ khu tầng trên đã niêm kín, ngay cả khi toàn bộ gia đình đều đang ở dưới tầng, và họ băn khoăn tự hỏi đám bò thường hay bị mổ thịt hiến tế một cách nhanh chóng hay lâu la. Người ta từng bàn tính sẽ khiếu nại với Hiệp hội Bảo vệ Động vật; nhưng rốt cuộc cũng chẳng đi đến đâu cả, vì dân làng Dunwich chẳng hào hứng gì với việc bị thế giới bên ngoài nhòm ngó.

Vào khoảng năm 1923, khi Wilbur đã lên mười và sở hữu khối óc, giọng nói, vóc dáng, cùng bản mặt râu ria lởm chởm của một người trưởng thành, ngôi nhà cổ lại được trùng tu sang sửa. Tất cả đều diễn ra bên trong khu tầng trên bị niêm kín, và dựa trên những mảnh gỗ vụn bị vứt bỏ, dân tình kết luận rằng thằng bé và ông của nó đã đập hết tất cả các tường ngăn và thậm chí còn gỡ bỏ sàn tầng áp mái, chỉ để lại một khoảng trống lớn giữa tầng trệt và cái mái nhọn. Họ cũng phá bỏ ống khói lớn ở giữa nhà, và gắn cho cái lò bếp gỉ sét một ống nung thiếc tồi tàn bên ngoài nhà.

Vào mùa xuân sau khi chuyện ấy xảy ra, lão Whateley già nhận thấy ngày càng có nhiều chim đớp muỗi bay từ thung lũng Cold Spring đến để hót líu lo dưới cửa sổ phòng mình vào ban đêm. Lão coi đây là một sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng, và nói với đám vô công rồi nghề tại tiệm Osborn rằng lão nghĩ số mình sắp tận rồi.

“Tụi nó giờ bỡn cợt hót theo nhịp thở của tao rùi. Tao đoán tụi này đang chuẩn bị tóm lấy linh hồn tao. Chúng biết nó sắp sửa thoát ly rùi, và không định bỏ lỡ nó đâu. Sau khi tao chết, tụi bây sẽ biết chúng có túm được tao hay không. Nếu túm được thật, chúng sẽ ca hát và cười cợt cho tới bình minh. Nếu không thì chúng sẽ im tiếng. Tao tin tụi chim đớp muỗi và các linh hồn chúng săn lùng đôi khi cũng giằng co rút căng.”

Vào đêm Hội Mùa Lammas, 1924, bác sĩ Houghton tại Aylesbury bị Wilbur Whateley hối hả gọi đến. Thằng bé đã vụt con ngựa duy nhất còn sót lại phóng qua màn đêm và gọi điện cho ông từ tiệm Osborn ở trong làng. Khi đến nơi, ông thấy lão Whateley già đang trong tình trạng rất nguy ngập, tim đập loạn và hơi thở khò khè báo hiệu cái chết đã không còn xa nữa. Cô con gái bạch tạng dị dạng và đứa cháu trai râu ria xồm xoàm đến lạ đứng cạnh giường, vọng xuống từ vực thẳm trống không phía trên đầu là một âm thanh đáng sợ, nghe na ná tiếng dâng trào hoặc óc ách nhịp nhàng nào đó, như những con sóng vỗ trên bãi biển. Tuy nhiên, thứ làm vị bác sĩ thấy bất an nhất lại là tiếng ríu rít của những con chim đêm bên ngoài; một quân đoàn chim đớp muỗi chừng như bất tận cứ liên tục lặp đi lặp lại lời nhắn nhủ của mình, hiểm ác căn theo tiếng thở khò khè của lão già hấp hối. Thật kì dị và bất thường - bác sĩ Houghton thầm nghĩ rằng điều ấy cũng cực kỳ giống với toàn bộ cái khu này, nơi ông đã lưỡng lự đặt chân đến khi nhận được lời hiệu triệu cấp bách.

Lúc gần một giờ, lão Whateley già hồi tỉnh, và ngừng thở khò khè để nghèn nghẹn gửi gắm vài lời cho thằng cháu trai của mình.

“Thêm chỗ, Willi, sẽ sớm cần thêm chỗ. Mày lớn - và nó còn lớn nhanh hơn. Nó sẽ sớm sẵn sàng phục vụ mày, con à. Mở cổng cho Yog-Sothoth với câu kinh dài ở trang 751 của phiên bản đầy đủ, sau đó châm lửa đốt nhà tù. Lửa Trái Đất không thể thiêu rụi nó đâu.”

Lão hiển nhiên đã mất trí. Một khoảng lặng bao trùm, và đàn chim đớp muỗi bên ngoài điều chỉnh tiếng kêu cho khớp với nhịp thở vừa thay đổi trong khi các tiếng động kì lạ trên đồi văng vẳng vọng lại từ phía đằng xa. Sau đó thì lão bổ sung thêm một, hai câu nữa.

“Cho nó ăn thường xuyên vào, Willi, và nhớ để ý lượng đồ ăn; nhưng chớ để nó lớn quá nhanh so với cái chỗ ấy, nếu nó phá tung nhà hay ra ngoài trước khi mày mở cửa cho Yog-Sothoth, mọi thứ sẽ chấm dứt và không nên trò trống gì cả. Chỉ có các Đấng bên kia mới có thể nhân bản nó và khiến nó hữu dụng… Chỉ mình họ, các cổ nhân muốn quay trở lại…”

Nhưng bài nói lại một lần nữa phải nhường chỗ cho những hơi ức, và Lavinia hét lên trước cái kiểu bám theo sự thay đổi ấy của đám chim đớp muỗi. Cứ như vậy hơn một giờ liền, và rồi tiếng sặc lào khào cuối cùng cũng vang lên. Bác sĩ Houghton vuốt đôi má hõm xuống cặp mắt xám mờ đục còn bầy chim huyên náo dần chìm vào im lặng. Lavinia khóc nức nở, nhưng Wilbur chỉ cười khúc khích trong khi những tiếng ồn trên đồi khẽ ì ầm.

“Chúng không bắt được ổng,” nó lẩm bẩm với cái giọng trầm của mình.

Vào thời điểm này, Wilbur đã trở thành một học giả hết sức uyên bác theo cái kiểu phiến diện của mình, và nổi tiếng một cách khá kín đáo trong giới thủ thư vì đã trao đổi thư từ với nhiều người ở những nơi xa xôi, chốn lưu giữ những cuốn cấm kinh hiếm thời xưa. Nó càng ngày càng bị người dân quanh Dunwich ghét bỏ và hãi sợ vì đã có một số vụ trẻ con bị mất tích, và thiên hạ cứ ngờ ngợ nó là thủ phạm. Nhưng nó luôn bưng bít được mọi cuộc điều tra bằng cách dọa nạt hay sử dụng chỗ vàng cổ thường xuyên được bỏ ra ngày một nhiều để mua gia súc, y như hồi ông nó còn sống. Bây giờ thằng bé đã trưởng thành trên rất nhiều phương diện, và sau khi đã đạt đến giới hạn chiều cao của một người trưởng thành bình thường, nó xem chừng rồi sẽ còn phát triển vượt quá ngưỡng đó. Tính đến một ngày nọ năm 1925, khi một học giả tại Đại học Miskatonic từng trao đổi thư từ với thằng bé ghé thăm nó để rồi phải rời đi trong trạng thái nhợt nhạt và hoang mang, nó đã cao nguyên hai mét.

Trong suốt những năm ấy, Wilbur ngày một khinh miệt người mẹ bạch tạng phần nào dị dạng của mình, và cuối cùng thì nó cấm cô ta đi lên đồi cùng với mình vào Đêm Thánh Walpurgis và Halloween. Năm 1926, người phụ nữ tội nghiệp ấy phàn nàn với Mamie Bishop rằng cô ta sợ thằng bé.

“Có nhiều điều về nó mà tui biết nhưng không thể tiết lộ cho chị được, Mamie à. Dạo này thì có nhiều điều mà bản thân tui thậm chí còn không biết nữa chớ. Tui xin thề có Chúa, tui không biết nó muốn gì hay đang định làm gì.”

Halloween năm đó, những tiếng ồn trên đồi nghe có vẻ ồn ã hơn bao giờ hết, và lửa vẫn vùng cháy trên đồi Sentinel như thường lệ; nhưng dân tình chú ý nhiều hơn đến tiếng kêu chói tai đầy nhịp nhàng của những đàn chim đớp muỗi, lưu lại muộn màng bất thường, chừng như túm tụm ở gần nông trại tối om của gia đình Whateley. Sau nửa đêm, những tiếng hót lanh lảnh của chúng rộ hẳn lên, chuyển thành một tràng cười hỗn loạn, tràn ngập khắp vùng quê, và mãi đến tận bình minh thì lũ chim cuối cùng mới chịu lắng xuống. Thế rồi chúng biến mất, vội vã bay về phía Nam, nơi chúng đáng lẽ phải đến từ một tháng trước rồi. Mãi một thời gian sau, người ta mới hiểu được ý nghĩa của điều này. Xem chừng không có ai trong đám dân quê này qua đời cả - nhưng Lavinia Whateley tội nghiệp, người phụ nữ bạch tạng dị dạng, đã biệt tăm biệt tích.

Vào mùa hè năm 1927, Wilbur sửa chữa hai nhà kho trong sân nông trại và bắt đầu chuyển những cuốn sách cùng đồ đạc của mình ra ngoài đấy. Không lâu sau đó, Earl Sawyer bảo với đám vô công rồi nghề tại tiệm Osborn rằng nông trại nhà Whateley lại tiếp tục được sửa sang. Wilbur đang bít kín tất cả các cửa ra vào với cửa sổ ở tầng trệt, và dường như đang gỡ bỏ các phần tường ngăn cách giống như nó và ông mình từng làm trên tầng bốn năm trước. Nó hiện đang sống ở một trong mấy căn nhà kho, và Sawyer nghĩ thằng bé có vẻ lo lắng và rúng động lạ thường. Nhìn chung, thiên hạ nghi ngờ Wilbur biết điều gì đó về sự mất tích của mẹ nó, và bây giờ chẳng mấy ai dám lại gần căn nhà đó nữa. Chiều cao của thằng bé đã lên đến hơn hai mét mốt, và không có chút dấu hiệu nào là nó sẽ ngừng phát triển.

- V -

Mùa đông năm sau xảy ra một sự kiện hết sức kỳ lạ, ấy chính là Wilbur lần đầu tiên rời khỏi vùng Dunwich. Việc trao đổi thư từ với thư viện Widener tại Harvard, thư viện quốc gia Pháp ở Paris, bảo tàng Anh, Đại học Buenos Aires và thư viện Đại học Miskatonic ở Arkham đã không giúp thằng bé mượn được một cuốn sách mà nó cực kì muốn. Thế là một thời gian sau, Wilbur đích thân lên đường trong bộ dạng bê tha, bẩn thỉu, râu ria xồm xoàm, và giọng điệu quê kệch để tham khảo bản lưu giữ ở Miskatonic, nơi gần nhất về mặt địa lí với nó. Một ngày nọ, với chiều cao gần hai mét rưỡi, và mang theo một chiếc va-li rẻ tiền mới mua từ tiệm bách hóa Osborn, pho tượng máng xối đen sì trông như dê ấy xuất hiện ở Arkham nhằm tìm kiếm cuốn sách đáng sợ được giữ kín tại thư viện của trường đại học - phiên bản tiếng Latinh cuốn sách Necronomicon gớm guốc của lão Ả Rập điên Abdul Alhazred do Olaus Wormius dịch, được in ở Tây Ban Nha vào thế kỉ thứ mười bảy. Từ trước đến nay Wilbur chưa bao giờ nhìn thấy một thành phố nào, nhưng nó chỉ chăm chăm tìm đường đến khuôn viên trường đại học. Tại đấy, nó thậm chí còn băng qua chỗ con chó canh khổng lồ, nanh trắng ởn, thây kệ con chó sủa với vẻ hung hãn và thù hằn đầy bất thường, điên cuồng kéo sợi xích căng cứng của mình.

Wilbur mang kèm theo bản dịch tiếng Anh của Dee mà ông nó đã để lại, vô giá nhưng không đầy đủ, và khi được phép tiếp cận bản tiếng Latinh, nó ngay lập tức đối chiếu hai phiên bản nhằm tìm kiếm một đoạn văn mà đáng lẽ phải nằm ở trang 751 trong cuốn sách khuyết nội dung mình đang sở hữu. Thằng bé khiếm nhã tiết lộ điều ấy cho người thủ thư - tức Tiến sĩ Henry Armitage uyên bác (Thạc sĩ tại Miskatonic, Tiến sĩ tại Princeton, Tiến sĩ Văn khoa danh dự tại Johns Hopkins), người đã từng ghé thăm nông trại, và giờ thì ông đang lịch sự hỏi han nó. Wilbur buộc phải thừa nhận rằng mình đang tìm kiếm một công thức hoặc câu thần chú gì đó chứa cái tên Yog-Sothoth đáng sợ, và nó rất bối rối khi thấy có những đoạn không nhất quán, trùng lặp, và mơ hồ, khiến cho công việc xác định câu thần chú kia trở nên khó khăn. Trong lúc nó sao chép phiên bản công thức cuối cùng mình chọn, Tiến sĩ Armitage vô tình nhìn qua vai nó, trông thấy những trang để mở. Bên trong trang bên trái của phiên bản tiếng Latinh là những mối đe dọa khủng khiếp tột cùng với sự bình an và minh mẫn của thế giới. (Armitage thầm dịch trong đầu phần nội dung ông thấy.)

“Cũng không nên lầm tưởng rằng, con người là chủ nhân lâu đời nhất hay cuối cùng của Trái Đất, hoặc các khối thức sống và vật chất phổ thông là kẻ duy nhất tồn tại. Các Đại Đấng Cổ Xưa đã, đang, và sẽ tồn tại. Không phải trong những vùng không gian chúng ta biết, mà là giữa những nơi ấy, Họ bước đi đầy thanh thản và nguyên sơ, phi không gian và tàng hình đối với chúng ta. Yog-Sothoth biết cánh cổng ấy. Yog-Sothoth là cánh cổng ấy. Yog-Sothoth là chìa khóa và người bảo vệ cổng. Quá khứ, hiện tại, tương lai, tất cả đều là một trong Yog-Sothoth. Ngài biết các Đại Đấng cổ Xưa hồi trước từng vượt qua tại nơi nào, và Họ sẽ lại vượt qua ở đâu. Ngài biết Họ từng trải bước qua những cánh đồng nào trên Trái Đất, và Họ vẫn đang đi ở đâu, cũng như tại sao không ai có thể nhìn thấy Họ trong khi Họ bước đi. Đôi khi con người có thể biết Họ đang ở gần nhờ mùi hương của Họ, nhưng không con người nào hay biết gì về diện mạo của Họ, trừ những đường nét của những tạo vật Họ đã sản sinh ra cho nhân loại; và các tạo vật ấy có rất nhiều chủng loại, với ngoại hình không giống nhau, từ hình mẫu lý tưởng nhất của con người cho đến cái bản thể vô hình vô dạng hệt như Họ. Họ tàng hình và tỏa mùi hôi thối đi qua đi lại trong những miền lẻ loi, nơi Lời Lẽ được cất lên và các Nghi Thức gầm rú quanh năm suốt tháng. Gió lắp bắp với giọng nói của Họ, và mặt đất rì rầm với ý thức của Họ. Họ bẻ cong rừng già và nghiền nát các thành phố, ấy nhưng cả rừng già lẫn thành phố đều không thể diện kiến bàn tay trừng phạt mình. Kadath nơi miền hoang giá băng từng diện kiến Họ, nhưng người đời đã ai từng diện kiến Kadath hay chưa? Những hòn đá khắc ghi dấu ấn của Họ được lưu giữ tại sa mạc băng ở miền Nam và các hòn đảo chìm của đại dương, nhưng nào ai đã nhìn thấy thành phố đóng băng dưới sâu hay tòa tháp cao bị niêm kín với rong rêu và hàu biển quấn quanh? Cthulhu vĩ đại là họ hàng của Họ, nhưng Ngài chỉ có thể lờ mờ theo dõi Họ. Iä! Shub-Niggurath! Ta sẽ nhận diện ra Họ nhờ một mùi xú uế. Bàn tay Họ siết quanh cổ họng ta, nhưng ta lại không thấy Họ. Dẫu vậy, nơi ở của Họ thậm chí lại còn chính là ngưỡng cửa mà ta cẩn mật canh gác. Yog-Sothoth là chìa khóa của cánh cổng, nơi các tinh cầu hội tụ với nhau. Con người hiện đang cai trị nơi Họ từng cai trị; chẳng bao lâu nữa Họ sẽ cai trị nơi con người hiện đang cai trị. Sau hè sẽ đến đông, và sau đông sẽ đến hè. Họ chờ đợi đầy kiên nhẫn và quyền uy, vì Họ sẽ lại trị vì nơi đây một lần nữa.”

Sau khi liên hệ những gì ông đọc được với những điều đã nghe kể về Dunwich cũng như các thực thể tăm tối tồn tại ở đấy, và về Wilbur Whateley cùng khí chất hắc ám, gớm guốc của nó, trải dài từ một gốc gác mập mờ cho đến việc có khả năng nó đã giết mẹ mình, Tiến sĩ Armitage cảm thấy cơn sợ hãi tràn qua người, hữu hình chẳng khác nào một luồng gió lạnh ẩm ướt phả ra từ một ngôi mộ. Thằng bé khổng lồ gù người, trông như dê trước mặt ông nhìn cứ như hậu duệ của một hành tinh hoặc chiều không gian khác; giống như thứ chỉ tồn tại một phần là người và có dính dáng đến các vực thẳm chứa đựng sinh linh và thực thể đen ngòm, trải dài như các miền ảo ảnh mênh mông, vượt ra ngoài mọi giới của lực và vật chất, không gian và thời gian. Chẳng bao lâu sau, Wilbur ngẩng đầu lên và bắt đầu nói theo cái kiểu kì lạ, vang vọng như thể các cơ quan phát ra giọng nói của nó không giống loài người.

“Ngài Armitage,” nó nói, “tui tính mình phải mang cuốn sách đó về nhà. Trong đó có những thứ tui phải đem ra thử trong một số điều kiện mà tui không thể tạo dựng được ở đây, và để thủ tục hành chánh quan liêu ngăn cản tui thì quả là một trọng tội. Hãy để tui mang nó về nhà, thưa ngài, và tui xin thề sẽ không ai biết gì hết. Hẳn không cần nói ngài cũng biết tui sẽ giữ gìn nó cẩn thận. Tui không phải là người đã làm cho bản sách của Dee trở thành như thế này…”

Thằng bé ngừng lời khi nhìn thấy vẻ từ chối đầy kiên quyết trên khuôn mặt của người thủ thư, và các nét mặt như dê của nó trở nên xảo quyệt. Đang sắp sửa bảo thằng bé rằng nó có thể chép lại những phần mình cần, Armitage đột nhiên nghĩ về những hậu quả tiềm tàng và giữ mồm giữ miệng. Trao chìa khóa mở ra các thế giới báng bổ thánh thần nhường ấy cho một kẻ như vậy là một trách nhiệm rất nặng nề. Whateley nhận ra tình hình, và cố gắng trả lời thật nhẹ nhàng.

“Hầy, thôi được rùi, nếu ngài cảm thấy như vậy. Có khi Harvard sẽ không quan trọng hóa mọi sự như ngài.” Rồi nó không nói thêm câu gì nữa, đứng dậy và bước ra khỏi tòa nhà, khom người xuống ở mỗi ô cửa.

Armitage nghe thấy tiếng sủa man dại của con chó canh, và quan sát dáng đi như khỉ đột của Whateley trong lúc nó băng qua phần khuôn viên trường có thể được nhìn thấy từ cửa sổ. Ông nghĩ về những câu chuyện hoang đường mình từng nghe kể, và nhớ lại những bài báo Chủ Nhật cũ trong tờ Advertiser, ông biết được về những bài báo cùng với các truyền thuyết ấy từ đám dân quê cùng người làng Dunwich trong chuyến ghé thăm nơi đó. Những thứ tàng hình không thuộc về dương thế - hay ít nhất là không phải dương thế ba chiều - phóng qua các thung lũng hẹp của New England một cách đầy ô uế và kinh khủng, tởm lợm nghiền ngẫm trên các đỉnh núi. Vốn đã lâu nay, ông tin chắc rằng đó là sự thật. Bây giờ thì ông cảm thấy như thể một phần khủng khiếp nào đó của nỗi kinh hoàng len lỏi kia đang hiện diện ngay gần mình, và thoáng ngỡ tưởng cơn ác mộng cổ xưa và từng có thời án binh bất động ấy vừa tiến thêm một bước đầy hung hiểm trên chặng đường thống trị hắc ám của mình. Ông cất kín cuốn Necronomicon đi và rùng mình vì ghê tởm, nhưng căn phòng vẫn cứ tràn ngập một mùi hôi thối khó tả.

“Ta sẽ nhận diện ra Họ nhờ một mùi xú uế,” ông trích lại. Đúng rồi - cái mùi xú uế này cũng hệt như thứ từng khiến ông phát bệnh tại nông trại nhà Whateley chưa đầy ba năm trước. Ông một lần nữa nghĩ về Wilbur cùng diện mạo như dê, hắc ám của nó, và bật cười nhạo báng trước những tin đồn của làng về gốc gác thằng bé.

“Sinh đẻ cận huyết ư?” Armitage tự lẩm bẩm một mình. “Ôi lạy Chúa, thật là một đám ngớ ngẩn! Trưng ra cho cái ngữ đó cuốn Đại thần Pan của Arthur Machen và họ sẽ nghĩ đấy chỉ là một vụ bê bối Dunwich thông thường! Nhưng thứ gì - ảnh hưởng vô hình vô dạng đáng nguyền rủa nào trong hay ngoài cái thế giới ba chiều này - có thể là cha của Wilbur Whateley đây? Sinh ra vào ngày Lễ Nến - chín tháng sau Đêm Thánh Walpurgis năm 1912, khi tin đồn về những tiếng ồn kì quái trong lòng đất lan truyền đến tận Arkham. Thứ gì đã bước đi trên những ngọn núi vào đêm tháng Năm ấy? Nỗi kinh hoàng Roodmas nào đã đặt chân xuống hạ giới trong lốt máu thịt á nhân đó?”

Trong suốt những tuần sau đó, Tiến sĩ Armitage bắt tay vào thu thập tất cả dữ liệu có thể về Wilbur Whateley và các thực thể vô hình quanh Dunwich. Ông liên lạc với bác sĩ Houghton ở Aylesbury, người đã khám cho lão Whateley già trong lần lão đổ bệnh lúc cuối đời, và thấy những lời trăng trối của lão mà ông bác sĩ trích lại có rất nhiều điều đáng suy ngẫm. Chuyến viếng thăm làng Dunwich không giúp ông khám phá ra điều gì mới mẻ cả; nhưng sau khi nghiên cứu tỉ mỉ cuốn Necronomicon, đặc biệt là những phần mà Wilbur đã hùng hục lùng tìm, ông có vẻ đã tìm ra một số manh mối khủng khiếp mới, xoay quanh bản chất, phương pháp, cùng với mong muốn của cái thế lực xấu xa kỳ lạ đang mơ hồ đe dọa hành tinh này. Sau khi nói chuyện với một số nghiên cứu sinh về truyền thuyết cổ xưa ở Boston kèm theo thư từ với nhiều người ở những nơi khác, ông được một phen sửng sốt vô cùng, và cứ dần dần thêm phần lo lắng, cho đến khi sự kinh ngạc ấy trở thành một nỗi sợ hãi tâm linh tột độ. Mùa hè càng đến gần, ông càng lờ mờ cảm thấy rằng cần phải làm gì đó về những nỗi kinh hoàng lẩn khuất tại vùng thượng thung lũng Miskatonic kia, và về cái sinh vật quái thai được thế giới loài người biết đến dưới cái tên Wilbur Whateley.

- VI -

Vụ việc kinh hoàng tại Dunwich xảy ra vào giữa Hội Mùa Lammas và Thu phân năm 1928, Tiến sĩ Armitage là một trong số những người chứng kiến màn mở đầu quái dị của nó. Trong quãng thời gian ấy, ông đã hay tin về chuyến ghé thăm Cambridge quái đản của Whateley, và việc nó bấn loạn tìm cách mượn hoặc sao chép nội dung cuốn Necronomicon tại thư viện Widener. Những nỗ lực đó chỉ như dã tràng xe cát, vì Armitage đã gửi những lời cảnh báo hết sức khẩn thiết đến cho tất cả các thủ thư chịu trách nhiệm cai quản cuốn sách đáng sợ này. Wilbur vô cùng bồn chồn tại Cambridge; rất nóng lòng muốn có cuốn sách, nhưng nó gần như cũng nóng lòng muốn trở về nhà không kém, như thể thằng bé e sợ hệ quả của việc đi vắng quá lâu.

Đến đầu tháng Tám thì cái kết cục phần nào được dự đoán trước đã xảy ra. Vào giữa đêm hôm mùng 3, Tiến sĩ Armitage bị đánh thức đột ngột bởi tiếng sủa man dại, dữ dội của con chó săn hung hãn trong khuôn viên trường đại học. Những tiếng gầm gừ và sủa cứ vang lên mãi, trầm trầm và khủng khiếp, hằn học, như phát rồ phát dại; mỗi lúc một to hơn, nhưng lại có những khoảng lặng lớn đầy dị hợm. Sau đó, có tiếng gào phát ra từ một cổ họng khác hẳn - một tiếng hét khiến cho phân nửa những con người đang say ngủ tại Arkham phải bật dậy và vĩnh viễn ám ảnh những giấc mơ sau này của họ. Không thể có chuyện tiếng hét ấy xuất phát từ một tạo vật sinh ra trên Trái Đất, hay hoàn toàn thuộc về Trái Đất.

Armitage vội vã khoác lên người ít quần áo và hối hả băng qua đường lẫn bãi cỏ, lao về phía các tòa nhà của trường đại học, thấy rằng có những người khác đang ở phía trước mình; và nghe thấy âm thanh vang vọng của hồi chuông chống trộm vẫn đang lanh lảnh phát ra từ thư viện. Một cửa sổ để mở trông đen ngòm và toang hoang dưới ánh trăng. Kẻ đến đây đã vào được hẳn bên trong; bởi cả tiếng sủa lẫn tiếng la hét, bấy giờ đang nhanh chóng lắng xuống thành một mớ tạp âm pha trộn giữa tiếng gầm gừ và rên rỉ khẽ, rõ ràng vọng ra từ phía bên trong thư viện. Một bản năng nào đấy cảnh báo với Armitage rằng chuyện đang diễn ra là thứ người trần mắt thịt không nên chứng kiến, thế nên ông đã tận dụng uy quyền của mình để đẩy lùi đám đông lại trong lúc mở khóa cánh cửa ngoài tiền sảnh. Trong số nhóm người này, ông thấy Giáo sư Warren Rice và Tiến sĩ Francis Morgan, những người đã được ông tiết lộ một số phỏng đoán và âu lo của bản thân; và ông ra hiệu cho hai nhân vật này đi cùng mình vào bên trong. Ngoại trừ tiếng ư ử đầy cảnh giác, đều đều từ con chó, các âm thanh bên trong lúc bấy giờ đã lắng xuống. Nhưng giờ thì Armitage lại giật nảy mình khi nhận ra một dàn hợp xướng chim đớp muỗi ồn ã giữa những bụi cây đã bắt đầu cất tiếng ca một bài hát nhịp nhàng đến đáng nguyền rủa, như thể hòa đồng với hơi thở cuối cùng của một người đang hấp hối.

Tòa nhà tràn ngập mùi hôi thối đáng sợ mà Tiến sĩ Armitage biết rất rõ, và ba người bọn họ phóng qua hành lang, lao về phía phòng đọc sách phả hệ học nhỏ, nơi tiếng rên rỉ khẽ phát ra. Trong tích tắc, không ai dám bật đèn lên, thế rồi Armitage lấy hết can đảm nhấn công tắc. Một trong ba người bọn họ - không rõ là ai - rú tướng lên trước cái thứ nằm sõng soài giữa mớ bàn hỗn độn và ghế bị lật ngổn ngang trước mặt họ. Giáo sư Rice tuyên bố rằng ông đã thoáng ngất lịm đi, mặc dù ông không lảo đảo hay ngã xuống gì hết.

Nằm nghiêng và hơi gập mình lại trong một vũng dịch hôi thối màu vàng xanh và lớp nhớp như nhựa đường là một vật cao hơn hai mét bảy, bị con chó xé toạc toàn bộ quần áo cùng một ít da. Nó vẫn chưa chết hẳn mà thỉnh thoảng vẫn khẽ co giật, ngực nó phập phồng ăn khớp với tiếng ríu rít điên rồ của lũ chim đớp muỗi đang hau háu chờ đợi bên ngoài một cách hết sức quái đản. Mấy mảnh da giày và phục trang nằm rải rác khắp trong phòng, và ngay sát mé trong cửa sổ là một bao vải rỗng, rõ ràng đã bị quăng vào đấy. Một khẩu súng lục ổ quay rơi gần cái bàn chính giữa phòng, và về sau, một vỏ đạn bị móp nhưng không nhả đạn giúp giải thích lí do khẩu súng lại không được khai hỏa. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, cái vật kia đã lấn át hết tất cả các hình ảnh khác. Nếu bảo rằng không có ngòi bút nhân loại nào đủ sức mô tả nó thì nghe sẽ thật sáo rỗng, chưa kể còn không hoàn toàn chính xác nữa, nhưng ta vẫn có thể nói rằng bất kỳ ai sở hữu những quan niệm về diện mạo và đường nét bị ràng buộc quá chặt chẽ với các dạng thức sống phổ thông trên hành tinh này và với ba chiều không gian đã được biết đến cũng sẽ đều vô phương hình dung nổi nó một cách thật sinh động. Nó rõ ràng phần nào có lai với người, không thể phủ nhận được điều đó. Đôi tay và cái đầu nó trông rất giống con người, và khuôn mặt trông như dê, lẹm cằm của nó là dấu ấn của gia đình Whateley. Nhưng thân và nửa dưới cơ thể có cấu trúc cực kì quái thai, chỉ quần áo rộng thùng thình mới có thể giúp nó đi lại trên dương thế mà không gặp trở ngại hay bị diệt trừ.

Phần phía trên thắt lưng nó chỉ hơi hao hao mang hình người. Ngực của nó, nơi con chó vẫn đang thận trọng đặt bàn chân cào xé của mình ở yên trên đấy, được phủ một lớp da mồi, có hình mắt lưới như da cá sấu. Phần lưng loang lổ vàng và đen, và trông hơi giống lớp da vảy của một số loài rắn. Tuy nhiên, bên dưới thắt lưng là phần tồi tệ nhất; bởi vì đến đoạn này thì tất cả những nét tương đồng với con người đều biến mất và những thứ quái đản bắt đầu. Phủ dày trên da là bộ lông đen thô, và èo uột tòi ra từ bụng là một đống xúc tu dài màu xám xanh với giác hút màu đỏ. Chúng được bài trí rất khác thường, và dường như tuân theo các quy tắc đối xứng của một thứ hình học vũ trụ nào đó mà Trái Đất với Thái Dương Hệ chưa từng biết đến. Trên mỗi một bên hông, nằm sâu trong những cái hốc màu hồng, có mao là một thứ xem chừng là con mắt thô sơ. Thay vì một cái đuôi thì treo lủng lẳng ở đấy lại là một thứ vòi hay râu tua gì đó với các dấu hình khuyên màu tím, và nhiều bằng chứng cho thấy đây là một cái miệng hoặc cổ họng chưa phát triển. Nếu không kể đến lớp lông đen phủ ở trên thì phần chi sẽ trông hao hao chân sau của những loài thằn lằn khổng lồ thời tiền sử của Trái Đất; và ở dưới cuối là những miếng đệm đầy gân guốc nhấp nhô, chẳng phải vó guốc mà cũng không phải móng vuốt. Khi cái vật ấy hít thở, đuôi và xúc tu của nó nhịp nhàng thay đổi màu sắc, như thể chịu ảnh hưởng từ một hệ tuần hoàn bình thường đối với phía gốc gác phi nhân của nó. Hiện tượng ấy thể hiện trên các xúc tu bằng việc tông xanh lục của nó sẫm lại, ở phần đuôi thì lại là sắc vàng xen kẽ với một màu trắng xám bệnh hoạn trong khoảng trống giữa các vòng màu tím. Không có chút máu thật nào hết; chỉ có thứ dịch hôi thối màu vàng xanh chảy thành dòng dọc trên nền sàn phủ sơn, loang ra ngoài phạm vi chỗ lớp nhớp, và để lại một vết ố lạ thường đằng sau.

Sự hiện diện của ba người đàn ông xem chừng đã khuấy động cái thứ hấp hối kia, và nó bắt đầu lầm bầm mà không quay hoặc ngẩng đầu lên. Tiến sĩ Armitage không ghi chép lại những câu nó nói, nhưng cả quyết khẳng định rằng không có lời nào là tiếng Anh hết. Mới đầu thì các âm tiết không có chút tương đồng với bất kỳ ngôn ngữ nào trên Trái Đất, nhưng đến gần cuối thì có một số đoạn rời rạc rõ ràng được trích ra từ cuốn Necronomicon, tác phẩm báng bổ quái dị mà cái thứ này đã bỏ mạng trên đường tìm kiếm. Theo như những gì Armitage nhớ, nội dung của mấy đoạn ấy nghe na ná như “N’gai, n’gha’ghaa, bugg-shoggog, y’hah; Yog-Sothoth, Yog-Sothoth.” Tiếng nói dần tắt lịm đi trong lúc đám chim đớp muỗi cứ nhịp nhàng rít lên lanh lảnh với một vẻ háo hức xấu xa.

Sau đó tiếng thở hổn hển chững lại, và con chó ngẩng đầu lên tru một tiếng dài, thống thiết. Sự thay đổi xuất hiện trên khuôn mặt vàng, trông như dê của cái thứ đang nằm sõng soài, và đôi mắt lớn màu đen thất kinh nhắm lại. Bên ngoài cửa sổ, tiếng rít inh tai nhức óc của lũ chim đớp muỗi đột nhiên ngưng bặt, một âm thanh vo vo và xào xạc hoảng loạn vang lên, át đi những tiếng xì xào của đám đông bấy giờ đang túm tụm quanh đấy. Bè lũ quan sát lắm lông bay túa lên, biến mất khỏi tầm mắt, tạo thành những đám mây khổng lồ hằn trên nền mặt trăng, điên cuồng đuổi theo thứ chúng coi là con mồi.

Cùng lúc ấy, con chó đột ngột bật dậy, sủa một tiếng đầy sợ hãi, và lo lắng nhảy ra khỏi ô cửa sổ nó từng dùng để vào phòng. Đám đông phát ra một tiếng kêu, và Tiến sĩ Armitage lớn giọng bảo với những người bên ngoài rằng không được cho ai vào cho đến khi cảnh sát hoặc nhân viên giám định y tế đến. Ông lấy làm mừng là các cửa sổ quá cao, không thể nhìn vào được từ ngoài, và ông cẩn thận kéo những tấm rèm sẫm màu che từng ô cửa lại. Lúc này thì đã có hai cảnh sát viên xuất hiện. Tiến sĩ Morgan đón họ trong tiền sảnh, hiện đang khẩn nài họ khoan vào căn phòng đọc sách nồng nặc mùi hôi hám vì lợi ích của chính bản thân họ, và hãy đợi cho tới khi nhân viên giám định đến và cái thứ nằm trên sàn đã được che lại.

Trong khi ấy, trên sàn diễn ra một số thay đổi đáng sợ. Không việc gì phải miêu tả lại hiện tượng teo tóp và phân rã xảy ra trước mắt Tiến sĩ Armitage và Giáo sư Rice theo kiểu như thế nào và với tốc độ ra sao; nhưng có thể nói rằng ngoài cái mã khuôn mặt và bàn tay, phần con người đích thực mà Wilbur Whateley sở hữu hẳn là rất nhỏ. Khi nhân viên giám định y tế đến, chỉ còn duy nhất một khối màu trắng dính lớp nhớp trên những tấm ván quét sơn, và cái mùi quái dị đã gần như đã biến mất hoàn toàn. Có vẻ Whateley không có hộp sọ hoặc xương cốt; hay ít nhất là không có xương cốt thực sự hay vững chắc gì cả. Nó phần nào giống với người cha bí hiểm của mình.

- VII -

Ấy nhưng tất cả những điều này chỉ là khúc dạo đầu của sự kiện kinh hoàng thực sự tại Dunwich. Các quan chức giải quyết hết mọi thủ tục cần thiết trong hoang mang, các tình tiết bất thường được cẩn thận giấu biệt khỏi báo chí và công chúng, đã có người được cử đến Dunwich và Aylesbury nhằm tìm nhà và báo tin cho người thừa kế của Wilbur Whateley quá cố, bất kể đó có là ai. Họ thấy đám dân quê nơi đây đang trong tình trạng cực kỳ kích động, cả vì mấy tiếng ầm ầm rền vang ngày một lớn bên dưới những ngọn đồi hình vòm lẫn vì cái mùi hôi thối bất thường và âm thanh oàm oạp dồn dập, phát ra càng lúc càng ồn ã từ cái vỏ rỗng khổng lồ do nông trại bít ván kín mít của Whateley cấu thành. Earl Sawyer, người chịu trách nhiệm chăm sóc ngựa cùng gia súc trong lúc Wilbur vắng mặt, đã khủng hoảng thần kinh nghiêm trọng. Mấy vị chức trách nại cớ để không phải đặt chân vào cái chốn đóng ván ồn ào kia; và rất lấy làm mừng khi được gói gọn công cuộc khảo sát khu vực thằng bé quá cố từng sống, tức mấy cái nhà kho mới được sửa chữa, trong đúng một lần viếng thăm duy nhất. Họ trình một bản báo cáo đầy tẻ nhạt lên cho tòa án Aylesbury, và theo lời đồn thì các vụ kiện liên quan đến quyền thừa kế vẫn đang được giải quyết giữa vô số nhánh nhà Whateley, cả đã suy thoái lẫn chưa, ở vùng thượng thung lũng Miskatonic.

Một bản thảo với độ dài gần bất tận với nội dung là các kí tự lạ đã được tìm thấy trên chiếc tủ cũ mà chủ nó dùng làm bàn, và nó chẳng khác nào một câu đố khó hiểu đối với những người đã phát hiện ra. Bản thảo được viết theo kiểu gióng ngang như một cuốn sổ cái khổng lồ, và căn cứ vào khoảng cách dãn dòng cũng như cách màu mực và nét chữ thay đổi mà đây được đoán là một cuốn nhật ký. Sau một tuần tranh luận, nó đã được gửi đến Đại học Miskatonic cùng với bộ sưu tập sách kì lạ của thằng bé quá cố để nghiên cứu và có thể là phiên dịch nữa. Nhưng chẳng bao lâu sau, ngay cả những nhà ngôn ngữ học hàng đầu cũng nhận thấy rằng sẽ khó có thể giải mã được bản thảo này. Tính đến nay vẫn chưa phát hiện ra bất kỳ vết tích gì của chỗ vàng cổ mà Wilbur và lão Whateley già luôn sử dụng để thanh toán các khoản nợ của mình.

Vào đêm mùng 9 tháng Chín, nỗi kinh hoàng sổng ra. Tối hôm ấy, những tiếng ồn trên đồi vang lên rất rõ, và đám chó hung hăng cứ sủa thâu đêm. Những người dậy sớm vào ngày mùng 10 nhận thấy phảng phất trong không khí mùi hôi thối dị thường. Khoảng bảy giờ, Luther Brown, thằng nhóc giúp việc tại nông trại của George Corey, chỗ giữa thung lũng Cold Spring và ngôi làng, cuống cuồng phóng về sau khi dắt lũ bò ra bãi cỏ mười hecta lúc ban sáng. Thằng nhóc gần như bị co giật vì sợ hãi lúc loạng choạng lao vào trong nhà bếp; và ở sân bên ngoài là đàn bò khiếp đảm chẳng kém, bấy giờ đang cà móng và rống đầy thảm thương sau khi đã cùng hoảng loạn bám theo thằng bé để quay về. Giữa những tiếng thở hổn hển, Luther cố gắng lắp bắp thuật lại câu chuyện của mình cho bà Corey nghe.

“Đoạn trên con đường sau thung lũng ấy, cô Corey - có thứ gì đấy từng ở đó! Nó có mùi như sấm sét, tất cả các bụi rậm với cây con đều bị đẩy bạt lại khỏi con đường như thể một ngôi nhà đã di chuyển dọc theo đấy. Và đó vẫn chưa phải là điều tệ nhất đâu. Trên đường có dấu chân, cô Corey à - những dấu chân tròn khổng lồ, lớn ngang miệng thùng phuy, tất cả đều lún sâu như thể từng có một con voi đi ngang, có điều bốn chân thì không đủ để tạo nên những dấu chân ấy! Cháu quan sát dăm ba dấu trước khi bỏ chạy, và cháu thấy phủ trên tất cả mọi dấu là những đường xoè ra từ một điểm, trông cứ như những chiếc quạt lá cọ lớn - lớn gấp hai hay ba lần là bình thường - bị ép phẳng xuống dưới đường. Cái mùi thật kinh khủng, giống như mùi quanh chỗ căn nhà cũ của Phù thủy Whateley…”

Đến đoạn này thì nó ấp úng, và dường như lại bị nỗi sợ hãi từng khiến mình phải vắt giò lên cổ chạy về nhà làm cho run lẩy bẩy. Vì không thể khai thác thêm thông tin gì nữa, bà Corey bắt đầu gọi điện cho hàng xóm. Và thế là đoạn dạo đầu của bản nhạc hoảng loạn bắt đầu lan truyền khắp nơi, chẳng khác nào điềm báo cho những nỗi khiếp đảm khổng lồ. Khi bà ta liên hệ với Sally Sawyer, quản gia nhà Seth Bishop, nơi gần nhà của gia đình Whateley nhất, đến lượt bà ta phải lắng nghe thay vì truyền đạt; bởi vì do khó ngủ, thằng cu Chauncey của Sally đã lên chỗ ngọn đồi mạn gần nhà của Whateley, và hoảng hồn quay trở lại sau khi ngó qua nơi ấy cùng bãi cỏ nơi ông Bishop thả đám bò của mình suốt đêm.

“Dạ, chị Corey à,” giọng nói run rẩy của Sally truyền qua đường dây, “thằng Chauncey vừa chạy về như ma đuổi, và gần như không thốt nổi nên lời vì sợ hãi! Nó bảo nhà của lão Whateley nổ tung cả rồi, gỗ văng khắp nơi như thể thuốc nổ đã được sử dụng bên trong, chỉ có tầng dưới cùng không sao, nhưng nó bị một chất gì đó phủ kín giống như nhựa hắc ín có mùi rất kinh, nhỏ tong tỏng xuống dưới đất qua mép phần tường gỗ bên bị nổ. Trong sân có mấy cái dấu gì rất ghê rợn nữa - những dấu tròn to hơn một cái thùng phuy, và cũng dính lớp nhớp cái thứ chất vấy trên ngôi nhà bị nổ. Chauncey nói chúng dẫn vào trong đồng cỏ, một mảng cỏ chỗ đấy rộng hơn cả cái chuồng đã bị đạp bẹp, rồi tại những nơi mấy dấu tròn đi qua, tất cả các bức tường đá đều bị hất văng tứ tung.

“Và chị Corey này, Chauncey còn kể nó phải đi tìm đám bò của ông Seth, bất chấp lúc bấy giờ đang sợ phát khiếp; thằng nhỏ tìm thấy chúng tại đồng cỏ mạn trên, gần chỗ Devil’s Hop Yard, trong trạng thái tệ hại vô cùng. Phân nửa lũ bò đã biến mất, và phân nửa còn sót lại thì bị hút khô cả máu, trên thân là các vết loét tương tự như những gì từng xuất hiện trên đám gia súc của Whateley kể từ hồi thằng nhãi đen nhẻm của Lavinny chào đời. Ông Seth đang đi kiểm tra đám bò, nhưng tui cam đoan là ổng sẽ không bén mảng đến quá gần nhà của Phù thủy Whateley đâu! Chauncey không quan sát cẩn thận xem cái mảng cỏ bẹp lớn dẫn đi đâu sau khi nó rời đồng cỏ, nhưng thằng nhỏ nghĩ cái đấy hướng về phía con đường dẫn vào ngôi làng trong thung lũng.

“Tui cam đoan đấy, chị Corey ạ, có thứ đáng lẽ không được sổng ra nhưng nay lại đang tự tung tự tác rồi, và riêng về phần mình thì tui tin thằng nhãi Wilbur Whateley kia chính là thủ phạm đã sản sinh ra thứ đấy, thế nên nó mới có kết cục thê thảm như vậy. Trước giờ tui toàn bảo với tất cả mọi người là bản thân thằng nhãi cũng có phải là người hẳn đâu; tui nghĩ nó và lão Whateley già hồi trước hẳn đã nuôi thứ gì đó thậm chí còn không giống người bằng thằng nhãi trong cái nhà bị bít kín lại kia. Quanh Dunwich luôn có những thứ tàng hình - những thứ còn sống - không phải là con người mà cũng chẳng tốt lành gì cho con người.

“Đêm qua mặt đất phát tiếng rất ồn ã, và đến gần sáng thì Chauncey nghe thấy lũ chim đớp muỗi trong thung lũng Cold Spring kêu váng trời váng đất đến độ nó không thể ngủ nổi. Thế rồi nó có cảm tưởng mình nghe thấy một âm thanh gì đấy nữa văng vẳng vọng lại từ phía nhà của Phù thủy Whateley - kiểu như tiếng gỗ bị rứt hay bóc toạc ra, giống một cái hộp gỗ lớn được mở ra phía đằng xa ấy. Với tất cả những chuyện ấy, nó không ngủ nghê được tí nào cho tới khi mặt trời lên, sáng nay thì vừa dậy phát là nó đã chạy qua chỗ ngôi nhà của Whateley xem có chuyện gì luôn. Nó đã thấy đủ lắm rồi, tui cam đoan đấy, chị Corey ạ! Điều này chẳng tốt lành gì cả, tui nghĩ cánh đàn ông cần phải lập một nhóm và làm gì đó thui. Tui biết có thứ kinh khủng nào đấy đang tự do, và cảm thấy như thể mình tận số đến nơi rồi, dù chỉ có Chúa mới biết cụ thể nó là gì.

“Thằng Luther bên chỗ chị có để ý nhìn xem mấy cái dấu vết lớn kia dẫn đi đâu không? Không à? Ôi, chị Corey ơi, nếu chúng mà nằm ở mạn này của con đường thung lũng, và chưa đến được nhà chị, tui tin chúng hẳn đã đâm thẳng vào trong thung lũng. Chắc là đúng rồi. Tui trước giờ toàn nói thung lũng Cold Spring chẳng phải là chốn lành mạnh hay tử tế gì cho cam mà. Đám chim đớp muỗi và đom đóm tại đó không bao giờ hành xử như tạo vật của Chúa. Thiên hạ đồn rằng ta sẽ có thể nghe thấy những thứ lạ kỳ lướt qua và kháo chuyện trên không tại đó nếu đứng đúng nơi, giữa dốc đá và Bear’s Den.”

Đến trưa hôm ấy, nguyên ba phần tư cánh đàn ông của Dunwich đã đổ hết ra ngoài những con đường và đồng cỏ giữa khu tàn tích mới tạo của gia đình Whateley và thung lũng Cold Spring, hãi hùng săm soi các dấu chân khổng lồ, quái dị, đám gia súc thương tật của Bishop, đống đổ nát kì lạ, hôi thối của khu nông trại, và chỗ cỏ cây giập nát, rối bù của những cánh đồng và bờ đường. Bất kể thứ đã sổng ra ngoài thế giới có là gì thì nó chắc chắn cũng đã tiến xuống khe núi lớn đầy hiểm ác; bởi vì tất cả cây cối hai bên sườn khe đều cong oằn và gãy, một đại lộ lớn bị khoét xuyên qua các bụi cây thấp treo trên vách đá. Cứ như thể một ngôi nhà đã bị một trận tuyết lở đẩy đi, trượt qua mớ cây cối đan xen rối rắm trên con dốc gần như thẳng đứng. Không có âm thanh nào vọng lên từ bên dưới, mà chỉ có một mùi xú uế thoang thoảng, không rõ là gì. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi cánh đàn ông muốn ở lại bên mép khe núi và cãi cọ hơn là leo xuống và đương đầu với con quái vật khổng lồ bí ẩn ngay tại hang ổ của nó. Ba con chó đi cùng đoàn người mới đầu sủa rất hăng, nhưng khi đến gần thung lũng thì tỏ vẻ khiếp nhược và ngần ngại. Ai đó gọi điện báo tin cho tờ Aylesbury Transcript; nhưng vì đã quá nhàm tai với những câu chuyện hoang đường bắt nguồn từ Dunwich, biên tập viên chỉ viết một đoạn hài hước về nó; và không lâu sau đó thì bài ấy được Associated Press sao chép lại.

Đêm hôm đó, tất cả mọi người đi về nhà, và mọi ngôi nhà cũng như chuồng trại đều được rào chắn vững chãi hết sức có thể. Lẽ đương nhiên, không có gia súc nào được thả rông ngoài đồng hoang. Khoảng hai giờ sáng, một mùi hôi thối đáng sợ và tiếng chó sủa dữ dội đánh thức gia đình Elmer Frye, ở rìa phía Đông thung lũng Cold spring, và tất cả đều đồng ý rằng họ nghe thấy một âm thanh sột soạt hay óc ách nghèn nghẹt gì đó vọng vào từ đâu đó bên ngoài. Bà Frye đề nghị gọi điện thoại cho hàng xóm, và Elmer chồng bà sắp sửa đồng ý thì tiếng gỗ vỡ nát ngắt ngang cuộc trò chuyện của họ. Có vẻ nó đến từ chỗ cái chuồng; rồi theo liền sau đó là tiếng bọn gia súc gào rống và giẫm đạp lên nhau đầy kinh dị. Lũ chó chảy dãi ròng ròng và thu mình sát chân cả gia đình đang sợ đến đờ hết cả người. Ông Frye thắp đèn lồng theo thói quen, mặc dù biết rằng đi ra ngoài cái chuồng đen ngòm kia cũng sẽ đồng nghĩa với dấn thân vào cửa tử. Bọn trẻ con và cánh phụ nữ khóc thút thít, không dám la hét vì được một bản năng phòng vệ mơ hồ xa xưa nào đó mách bảo rằng nếu muốn giữ mạng thì phải im lặng. Cuối cùng, âm thanh của lũ gia súc lắng xuống thành tiếng rên rỉ thảm hại, và nổi lên sau đó là một tràng những tiếng răng rắc, rầm rầm, và tanh tách. Gia đình Frye túm tụm bên nhau trong phòng khách, không dám nhúc nhích cho đến khi những vọng âm cuối cùng chìm đi ở đằng xa, bên trong thung lũng Cold Spring. Thế rồi, giữa những tiếng rên rỉ thê lương từ chuồng gia súc và tiếng ríu rít ma quái của đám chim đớp muỗi muộn màng trong thung lũng, Selina Frye loạng choạng đến bên điện thoại và loan tin về giai đoạn thứ hai của cơn ác mộng.

Ngày hôm sau, toàn bộ vùng quê rơi vào hoảng loạn. Có mấy nhóm người khiếp vía, miệng câm như hến ghé xem nơi chuyện quái dị xảy ra. Trải từ thung lũng ra đến trang trại nhà Frye là hai dải tàn phá tan hoang khổng lồ, với những dấu chân gớm guốc phủ kín các mảng đất trống, và một bên của cái chuồng cũ sơn đỏ đã bị sụp hoàn toàn. Về phần đám gia súc thì chỉ một phần tư là có thể được tìm thấy và định danh. Vài con trong số chúng tan xác theo một kiểu rất khác lạ, và tất cả những con còn sống đều phải bị bắn hạ. Earl Sawyer đề nghị đi kêu người từ Aylesbury hoặc Arkham đến giúp đỡ, nhưng những người khác khăng khăng bảo rằng sẽ chỉ vô ích mà thôi. Lão Zebulon Whateley, thành viên của một nhánh gia tộc nằm ở ranh giới giữa lành mạnh và thoái hóa, đã đưa ra một số đề xuất điên rồ đầy tăm tối về các nghi thức cần được thực hiện trên những đỉnh đồi. Lão là hậu duệ của một gia đình rất trọng truyền thống, và những gì lão nhớ về những vụ tụng niệm thần chú trong các vòng tròn đá lớn không hẳn là có liên đới gì đến Wilbur và ông của nó.

Bóng tối bao trùm lên một miền quê hoang mang, nhưng lại quá thụ động để tổ chức triển khai phòng thủ cho thật tử tế. Trong một vài trường hợp, các gia đình họ hàng thân thích sẽ túm tụm lại và cùng canh phòng dưới một mái nhà trong cảnh trời u ám; nhưng nhìn chung thì họ chỉ lặp lại cái màn đóng cửa cài then đêm hôm trước, đồng thời nạp đạn súng hỏa mai và để sẵn chĩa ba chỗ tiện lấy, dù làm vậy cũng chỉ phí công vô ích. Tuy nhiên, chẳng có gì xảy ra cả, ngoại trừ việc trên đồi có một số tiếng ồn vọng xuống; và lúc sáng ra, nhiều người hi vọng rằng nỗi kinh hoàng mới đã biến mất chóng vánh như lúc nó xuất hiện. Thậm chí còn có mấy người táo bạo đề xuất xông vào trong thung lũng phản công, mặc dù họ chẳng dám làm gương cho số đông hãy còn do dự.

Khi đêm buông, màn đóng cửa cài then tiếp tục được lặp lại, mặc dù có ít gia đình túm tụm vào với nhau hơn. Sáng ra, cả gia đình Frye lẫn Seth Bishop đều báo là lũ chó đã bị kích động và có mấy âm thanh cùng mùi hôi thối mơ hồ từ xa vẳng lại, trong khi những người ra ngoài thăm dò từ sớm hãi hùng nhận thấy trên con đường bao quanh đồi Sentinel đã xuất hiện một loạt những dấu chân quái dị mới. Vẫn như trước, hai bên lề đường bị bầm dập cả, cho thấy nỗi kinh hoàng này sở hữu một kích thước lớn tột cùng. Căn cứ vào dạng hình của các dấu vết thì xem chừng nó đã di chuyển theo hai hướng, như thể ngọn núi di động kia đã từ thung lũng Cold Spring đến và rồi quay trở lại đó thông qua cùng một con đường. Dưới chân đồi, một mảng bụi cây non bị nghiền nát rộng chín mét dẫn thẳng lên trên, và những người lần theo dấu vết há hốc mồm khi thấy ngay cả những chỗ dốc đứng thẳng cũng không khiến cái vệt bất di bất dịch kia phải chệch đi đâu hết. Bất kể nỗi kinh hoàng này là gì đi chăng nữa, nó cũng có thể leo lên một vách đá với độ dốc gần như thẳng đứng; và khi đám người đi thăm dò leo lên đến đỉnh đồi bằng những tuyến đường vòng an toàn hơn, họ thấy rằng vệt dấu kết thúc ở đó - hay đúng hơn là quay ngoắt lại.

Đây chính là nơi hồi trước gia đình Whateley vẫn hay nhóm các đống lửa dị hợm và tụng những nghi lễ đáng ghê tởm của mình bên hòn đá trông như cái bàn vào Đêm Thánh Walpurgis và Halloween. Giờ đây, chính hòn đá đó lại trở thành tâm điểm của nguyên một vùng đất mênh mông bị nỗi kinh hoàng đồ sộ kia tàn phá. Trên bề mặt hơi lõm của hòn đá là một lớp nhựa dinh dính dày và hôi thối, hệt như thứ chất từng được trông thấy trên mặt sàn khu nông trại đã bị hủy hoại của nhà Whateley khi nỗi kinh hoàng ấy thoát ra. Ai nấy cũng nhìn nhau và lẩm bẩm. Rồi họ nhìn xuống ngọn đồi. Có vẻ nỗi kinh hoàng này đã leo xuống bằng một con đường tương tự lúc lên. Có đoán già đoán non thì cũng sẽ chỉ tổ công cốc. Lý trí, logic, và những quan niệm thông thường về động cơ đều vô dụng. Chỉ có mình lão Zebulon, người không đi cùng với nhóm này, mới có thể miêu tả được đúng mực tình huống này hay đưa ra nổi một lời giải thích khả dĩ.

Đêm thứ Năm cũng bắt đầu giống như những đêm khác, nhưng có một cái kết ít vui vẻ hơn. Đám chim đớp muỗi trong thung lũng đã rú rít dai dẳng bất thường đến nỗi nhiều người không tài nào ngủ nổi. Khoảng ba giờ sáng, điện thoại của tất cả mọi người đều run rẩy đổ chuông. Những ai nhấc ống nghe lên sẽ đều nghe thấy một giọng nói hoảng sợ đến phát rồ thét lên, “Cứu với, ôi lạy Chúa!…” và một số người tin rằng ngay lúc tiếng kêu đó vừa dứt thì một tiếng đổ sầm liền vang lên. Chẳng có thêm gì nữa. Không ai dám làm gì hết, và đến tận sáng thì họ mới biết cuộc gọi đến từ đâu. Sáng ra, những người nhận được cú điện thoại kia đã gọi cho tất cả các thành viên được kết nối khác, và phát hiện ra rằng chỉ có gia đình Frye là không đáp. Sự thật lộ diện một giờ sau, khi nhóm người có vũ trang được tất tả tập hợp lại và lê bước đến nhà Frye ở mạn đầu thung lũng. Sự tình thật kinh khủng, mặc dù chẳng có gì đáng bất ngờ cho lắm. Có thêm nhiều dải đất và các dấu chân quái dị nữa, nhưng không còn ngôi nhà nào cả. Nó đã bẹp rúm lại như một cái vỏ trứng, và không thể tìm thấy được gì trong mớ hoang tàn, dù là còn sống hay đã chết. Chỉ có một mùi hôi thối và chất nhựa hắc ín dính lớp nhớp. Gia đình Elmer Frye đã bị xóa sổ khỏi Dunwich.

- VIII -

Trong khi đó, một giai đoạn thầm lặng hơn nhưng thậm chí còn mang tính tâm linh sâu xa hơn của cơn ác mộng đang dần u ám hé lộ đằng sau cánh cửa đóng kín của một căn phòng đầy kệ sách ở Arkham. Bản thảo ghi chép hay cuốn nhật kí lạ thường của Wilbur Whateley, vốn được chuyển đến Đại học Miskatonic để phiên dịch, đã làm cho các chuyên gia về ngôn ngữ cả cổ đại lẫn hiện đại bị một phen hết sức lo lắng và bối rối. Chỉ riêng bảng chữ cái sử dụng trong đó thôi cũng hoàn toàn không được chuyên gia nào tại đấy biết đến, bất chấp nhìn chung thì nó cũng có đôi chút tương đồng với thứ tiếng Ả Rập nét đậm được sử dụng ở vùng Lưỡng Hà. Kết luận cuối cùng mà các nhà ngôn ngữ học đưa ra là văn bản này sử dụng một bảng chữ cái giả, khiến cho nó như một thứ mật mã; mặc dù xem chừng mọi phương pháp giải mã thông thường đều chẳng đủ sức cung cấp bất kì manh mối nào, ngay cả khi được áp dụng trên cơ sở mọi ngôn ngữ mà người viết có thể đã sử dụng. Những cuốn sách cổ được lấy từ ngôi nhà của Whateley cũng không giúp ích được chút gì về khoản này, mặc dù chúng vô cùng thú vị và trong một số trường hợp còn hứa hẹn sẽ khơi mở những hướng nghiên cứu vừa mới mẻ, vừa khủng khiếp cho cả các triết gia lẫn các nhà khoa học. Một trong số đó, cuốn sách nặng nề với chiếc móc sắt, được viết bằng một bảng chữ cái bí hiểm khác - bảng chữ cái này mang diện mạo rất khác, và giống với tiếng Phạn hơn bất kì ngôn ngữ nào. Rốt cuộc, cuốn sổ cũ được giao hẳn cho Tiến sĩ Armitage, do ông quan tâm một cách lạ thường đến vụ việc của thằng bé Whateley, và cả vì ông rất uyên thâm về ngôn ngữ lẫn thành thạo mảng các bùa chú huyền bí của thời cổ đại cũng như Trung Cổ.

Armitage đoán rằng có khả năng bảng chữ cái này là một thứ được ngấm ngầm sử dụng bởi một số giáo phái cấm kỵ, đã tồn tại từ thời xa xưa, và thừa hưởng nhiều nghi thức cũng như truyền thống từ các pháp sư của thế giới Ả Rập. Tuy nhiên, vấn đề đó không được ông cho là quan trọng; vì sẽ chẳng việc gì phải biết nguồn gốc của các ký hiệu nếu như chúng được sử dụng dưới dạng mật mã trong một ngôn ngữ hiện đại, và đó chính điều ông đang nghi ngờ. Bởi vì nó có một lượng chữ rất lớn, ông tin rằng người viết sẽ chẳng muốn sử dụng một ngôn ngữ không phải tiếng của mình làm gì cho lằng nhằng, với ngoại lệ có thể sẽ chỉ là một số công thức và thần chú đặc biệt. Thế là ông suy xét bản thảo với giả định sơ bộ rằng phần lớn nội dung của nó được viết bằng tiếng Anh.

Căn cứ vào những thất bại các đồng nghiệp của mình liên tục gặp phải, Tiến sĩ Armitage biết rằng đây là một câu đố sâu sắc và phức tạp; và các giải pháp đơn giản thậm chí sẽ còn chẳng xứng đáng đem ra thử nghiệm. Suốt giai đoạn cuối tháng Tám, ông tự trau dồi bản thân với khối kiến thức khổng lồ của mật mã học; tận dụng tối đa các nguồn lực trong thư viện riêng của mình, cày cuốc hết đêm này qua đêm khác giữa những bí kíp trong Poligraphia của Trithemius, De Furtivis Literarum Notis của Giambattista Porta, Traité des Chiffres của De Vigenère, Cryptomenysis Patefacta của Falconer, các chuyên khảo thế kỉ mười tám của Davys với Thicknesse, cùng các chuyên gia cận đại như Blair, von Marten, và cuốn Kryptographik của Klüber. Ông xen kẽ công cuộc nghiên cứu sách vở của mình với việc xử lý trực tiếp bản thảo, và dần tin chắc rằng bản thân đang phải đương đầu với một trong những mật mã tinh vi và khéo léo nhất, với nhiều danh sách chữ cái tương ứng được sắp xếp như bảng cửu chương, và thông điệp được xây dựng bằng các từ khóa không có quy luật mà chỉ người nào đã được dạy mới biết. Các chuyên gia thời xưa có vẻ hữu ích hơn những người gần đây, và Armitage kết luận rằng bộ mã của bản thảo có tuổi đời rất cổ, chắc hẳn đã được lưu truyền qua hàng bao thế hệ các nhà thí nghiệm thần học. Đã mấy lần ông cứ ngỡ mình sắp sửa làm sáng tỏ được mọi thứ, nhưng rồi bị tụt lùi bởi một chướng ngại vật không lường trước được. Thế rồi, khi tháng Chín đến gần, mây mù bắt đầu tan. Một số chữ cái được sử dụng trong mấy phần nhất định của bản thảo lộ diện một cách cụ thể và không lẫn đi đâu được; việc văn bản thực sự được viết bằng tiếng Anh đã trở nên rõ ràng.

Vào tối ngày mùng 2 tháng Chín, rào cản lớn cuối cùng cũng sụp đổ, và lần đầu tiên, Tiến sĩ Armitage có thể đọc được một đoạn liền mạch trong cuốn biên niên sử của Wilbur Whateley. Đó quả thật là một cuốn nhật ký, đúng như tất cả đều đã nghĩ; và phong cách trình bày của nó thể hiện rất rõ bản chất uyên thâm về huyền học song lại ít được học hành của cái sinh vật kỳ lạ đã viết ra nó. Gần như ngay đoạn dài đầu tiên mà Armitage giải mã được, một mục đề ngày 26 tháng Mười Một, 1916, cũng đã cực kì đáng giật mình và lo ngại. Ông nhớ nó vốn được viết bởi một đứa trẻ ba tuổi rưỡi, có điều trông lại giống như một đứa trẻ mười hai hoặc mười ba tuổi.

Hôm nay học tiếng Aklo cho Sabaoth, nhưng không thích, vì chỉ có thể nhận được câu trả lời từ ngọn đồi chứ không phải từ trên không. Thứ trên tầng phát triển nhanh hơn ta dự kiến, và chắc đầu óc chẳng có mấy phần người phàm. Bắn con Jack, chó chăn cừu của Elam Hutchins, khi nó đến cắn ta. Elam nói gã sẽ giết ta nếu dám. Ta đoán gã sẽ không dám đâu. Đêm qua ngoại không cho ta tụng câu thần chú Dho, ta nghĩ mình đã nhìn thấy nội thành ở hai cực từ. Ta sẽ đi đến chỗ những cực đó sau khi Trái Đất đã được thanh trừng, nếu không thể vượt qua được khi tụng thần chú Dho-Hna. Trong buổi gặp đêm, các Đấng trên không nói rằng ta sẽ phải mất nhiều năm thì mới có thể thanh trừng được Trái Đất, và ta đoán lúc ấy ngoại đã chết rồi, thế nên ta sẽ phải học hỏi hết tất cả các góc cạnh của các chiều không gian cùng mọi câu thần chú giữa Yr và Nhhngr. Các Đấng từ bên ngoài sẽ giúp đỡ, nhưng họ không thể sử dụng thân xác khi không sở hữu dòng máu con người. Thứ trên tầng trông có vẻ sở hữu tố chất thích hợp. Ta có thể hơi nhìn thấy nó khi làm dấu Voor hay thổi bột Ibn Ghazi vào nó, và nó cũng đang ở gần như họ vào Đêm Thánh Walpurgis trên đồi. Gương mặt còn lại có thể sẽ mòn đi chút ít. Không biết ta sẽ trông như thế nào khi Trái Đất đã được thanh trừng và không còn sinh vật nào của Trái Đất còn tồn tại trên đó nữa. Ngài đến từ lễ Aklo Sabaoth nói ta có thể sẽ biến dạng vì có nhiều việc bên ngoài cần giải quyết.

Sáng ra, Tiến sĩ Armitage nhớp nháp mồ hôi lạnh vì kinh hoàng và trong trạng thái tỉnh như sáo, tập trung đến điên cuồng. Suốt cả đêm ông không hề rời tập bản thảo, chỉ ngồi bên bàn dưới ngọn đèn điện, lật hết trang này đến trang khác bằng đôi bàn tay run rẩy với tốc độ tối đa mà khả năng giải mã văn bản bí hiểm của ông cho phép. Ông đã lo lắng gọi điện cho vợ, bảo rằng ông sẽ không về nhà, và khi bà mang bữa sáng từ nhà đến cho ông, ông mãi mới ăn hết nổi một miếng. Ông cứ đọc tiếp suốt cả ngày hôm đó, thỉnh thoảng bực điên người khi buộc phải dừng lại và tái sử dụng bộ chìa giải mã phức tạp. Bữa trưa và bữa tối được đưa đến cho ông, nhưng ông chỉ ăn một phần rất nhỏ cả hai bữa. Đến gần nửa đêm hôm sau, ông ngủ gật trên ghế, nhưng chẳng bao lâu thì đã choàng tỉnh từ giữa một nùi những cơn ác mộng với độ ghê tởm ngang ngửa những sự thật cũng như mối đe doạ đối với sự tồn tại của con người mà ông đã phát hiện ra.

Vào sáng ngày mùng 4 tháng Chín, Giáo sư Rice và Tiến sĩ Morgan khăng khăng đòi vào gặp ông một lúc, rồi họ rời đi trong tình trạng run rẩy và mặt mày xám ngoét. Tối hôm đó ông lên giường nghỉ, nhưng ngủ rất trằn trọc. Thứ Tư - ngày hôm sau - ông quay trở lại với bản thảo, và bắt đầu ghi chú lại rất nhiều điều từ cả các phần hiện tại lẫn mấy phần mà ông đã giải mã được. Lúc tối muộn ngày hôm ấy, ông chợp mắt một chút trên ghế bành trong văn phòng, nhưng lại quay ra nghiên cứu bản thảo lần nữa trước lúc bình minh lên. Trước buổi trưa một lúc, bác sĩ của ông - Hartwell ghé thăm và dứt khoát yêu cầu ông ngừng làm việc. Ông từ chối; tiết lộ rằng đọc xong cuốn nhật ký là công việc tối quan trọng, đồng thời hứa sẽ giải thích sau.

Tối hôm đó, khi hoàng hôn vừa bắt đầu buông, ông hoàn tất công việc nghiên cứu khủng khiếp của mình và kiệt sức ngả người ra sau. Lúc mang bữa tối đến, bà vợ thấy ông bấy giờ đang ở trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê; nhưng ông vẫn đủ tỉnh táo để cảnh báo bà hãy tránh ra với một tiếng kêu thất thanh khi ông nhìn thấy mắt bà liếc về phía những ghi chép của mình. Ông yếu ớt ngồi dậy, thu thập hết các tờ giấy đầy chữ viết nguệch ngoạc và niêm phong tất cả lại trong một phong bì lớn, sau đó ngay lập tức nhét nó vào túi trong của áo khoác. Ông vẫn đủ khỏe để về nhà, nhưng trông rõ ràng là cần được khám chữa, thế nên bác sĩ Hartwell đã liền được gọi đến. Lúc vị bác sĩ đưa ông về giường, ông chỉ có thể lẩm bẩm đi lẩm bẩm lại một câu: “Nhưng chúng ta còn có thể làm cái quái quỷ gì được nữa đây?”

Tiến sĩ Armitage ngủ, nhưng đến ngày hôm sau thì ông phần nào trở nên mê sảng. Ông không giải thích gì với Hartwell, nhưng trong những lúc tĩnh tâm, ông bảo mình rất cần có một buổi bàn bạc dài với Rice và Morgan. Một số điều điên rồ hơn mà ông hay lan man đề cập đến có nội dung rất đáng giật mình, bao gồm những lời khẩn cầu đầy hoảng hốt về việc cần tiêu diệt thứ gì đó trong một nông trại bị bưng bít kín mít, và cứ nhắc đến một kế hoạch kỳ quái nào đó nhằm diệt trừ toàn bộ loài người cũng như các loài động thực vật khỏi Trái Đất bởi một chủng tộc cổ xưa tột cùng đến từ chiều không gian khác. Ông cứ gào lên rằng thế giới đang gặp nguy hiểm, bởi vì các Tạo Vật Cổ Xưa muốn lột trần Trái Đất và kéo nó ra khỏi Hệ Mặt Trời cũng như vũ trụ của vật chất, tống thế giới vào trong một chiều không gian hay giai đoạn tồn tại nào đó khác, nơi nó từng rơi vào từ muôn vàn niên kỷ trước đây. Mấy lần khác, ông lại yêu cầu người ta đưa cho mình cuốn Necronomicon và Daemonolatreia đáng sợ của Remigius, xem chừng hi vọng sẽ tìm thấy một câu thần chú gì đấy trong đó để ngăn chặn mối nguy hiểm mà ông đã miêu tả.

“Ngăn chúng lại, ngăn chúng lại!” Ông sẽ gào lên như vậy. “Đám Whateley định để cho chúng lọt vào, kẻ còn sống sót chính là thứ tồi tệ nhất! Hãy bảo với Rice và Morgan chúng ta phải làm cái gì đó - đây là một công việc liều lĩnh, nhưng tôi biết cách tạo ra thứ bột… Nó đã không được cho ăn kể từ ngày 2 tháng Tám đến nay, khi Wilbur đến đây và tử nạn, với cái tình hình ấy…”

Nhưng mặc dù đã bảy mươi ba tuổi, Armitage vẫn sở hữu một thể trạng khỏe mạnh, và đã ngủ cho hết cơn bệnh của mình trong đêm đó mà không bị sốt gì đáng kể. Ông tỉnh dậy muộn vào hôm thứ Sáu, đầu óc tỉnh táo, mặc dù mang trong mình nỗi sợ hãi cồn cào và ý thức trách nhiệm khổng lồ. Đến chiều thứ Bảy, ông cảm thấy mình đã có thể đi đến thư viện và triệu tập Rice cùng Morgan đến để bàn bạc. Suốt cả ngày cũng như buổi tối hôm đó, ba người bọn họ vắt óc đưa ra những suy đoán điên rồ nhất, đồng thời say sưa tranh luận đầy tuyệt vọng. Những cuốn sách kì lạ và khủng khiếp được rút xuống hàng đống từ trên các kệ xếp cũng như những nơi lưu trữ an toàn; và hàng lô hàng lốc các sơ đồ cùng công thức đã được hối hả sao chép lại. Không có chút hoài nghi nào hết. Cả ba người họ đã nhìn thấy cái xác của Wilbur Whateley nằm trên sàn một căn phòng trong chính tòa nhà đó, và sau vụ đấy thì không ai trong số họ còn có thể coi cuốn nhật ký như những lời mê sảng của một kẻ điên được nữa.

Họ không thống nhất được quan điểm về việc có nên báo cho cảnh sát bang Massachusetts hay không, và cuối cùng phe phủ quyết đã chiến thắng. Vụ việc này có mấy tình tiết mà những người chưa từng được nhìn thấy mẫu vật nào chắc chắn sẽ không tin, và quả thật là một số cuộc điều tra sau này đã chứng minh điều ấy. Đến đêm khuya, cuộc họp chấm dứt khi chưa xây dựng được một kế hoạch cụ thể nào, nhưng suốt cả Chủ Nhật, Armitage cứ bận rộn so sánh các công thức và pha chế những hóa chất lấy từ phòng thí nghiệm của trường đại học. Càng nghĩ thêm về cuốn nhật ký đáng ghê tởm kia, ông lại càng thêm nghi ngờ việc một tác nhân vật chất lại có thể diệt trừ được cái thực thể mà Wilbur Whateley đã để lại đằng sau - cái thực thể đe dọa sự tồn vong của Trái Đất. Ông không hề hay biết rằng chỉ vài tiếng nữa thôi, nó sẽ bứt phá ra và trở thành cơn ác mộng đáng nhớ tại Dunwich.

Thứ Hai cũng chẳng khác gì Chủ Nhật đối với Tiến sĩ Armitage, vì công việc hiện tại đòi hỏi phải nghiên cứu và thử nghiệm rất nhiều. Sau khi tham khảo thêm cuốn nhật ký quái dị, nhiều điểm của kế hoạch đã phải bị thay đổi, và ông biết rằng ngay cả đến phút chót, kiểu gì cũng sẽ vẫn còn tồn lại một lượng bất định rất lớn. Đến thứ Ba thì ông đã hoạch định được một kế hoạch hành động cụ thể, và tính rằng trong vòng một tuần nữa, mình sẽ thử đi đến Dunwich một chuyến. Thế rồi, vào hôm thứ Tư, cú sốc lớn ập đến. Bị giấu kín trong một góc của tờ Arkham Advertiser là một bài báo ngắn cũn đầy bỡn cợt do Associated Press đăng, kể về một con quái vật to kỷ lục mà dân Dunwich đã tạo ra với rượu whisky. Gần như choáng hết cả người, Armitage chỉ còn biết gọi điện thoại cho Rice và Morgan. Họ thảo luận đến tận đêm khuya, và ngày hôm sau thì tất cả bọn họ cùng cuống cuồng sửa soạn. Armitage biết rằng mình sẽ phải dây dưa vào những thế lực khủng khiếp, ấy nhưng lại không nhìn ra được còn có cách nào khác để triệt tiêu những trò dây dưa thâm sâu và hung hiểm hơn mà những kẻ khác từng thực hiện trước mình.

- IX -

Sáng thứ sáu, Armitage, Rice, và Morgan đi xe đến Dunwich, đặt chân vào ngôi làng lúc khoảng một giờ chiều. Tiết trời hôm ấy rất đẹp, nhưng ngay cả dưới ánh dương rực rỡ nhất, dường như vẫn có một nỗi hãi sợ kín đáo và quái gở lơ lửng quanh những ngọn đồi vòm kì lạ và các khe núi sâu thẳm, tăm tối của cái miền đất gặp họa này. Thỉnh thoảng, trên đỉnh núi nào đấy, họ sẽ thoáng thấy một vòng tròn đá thê lương hằn in trên nền trời. Căn cứ vào bầu không khí hoảng sợ đầy kìm nén tại cửa tiệm Osborn, họ biết đã có chuyện ghê tởm gì đó xảy ra, và chẳng bao lâu sau thì được hay về việc ngôi nhà cũng như mọi thành viên trong gia đình Elmer Frye đều đã diệt vong. Trong suốt buổi chiều hôm đó, họ đi quanh Dunwich; hỏi han dân bản địa về tất cả những gì đã xảy ra, và tận mắt chứng kiến khu tàn tích thê thảm của gia đình Frye cùng những vết nhựa đường dính nhớp còn sót lại, các vết tích quái đản trong sân nhà Frye, lũ gia súc bị thương của Seth Bishop, kèm cả những mảng thực vật khổng lồ bị cày xới tại nhiều nơi khác nhau với nỗi hãi hùng ngày càng dâng cao. Cái vệt đường mòn dẫn lên và xuống đồi Sentinel dường như được Armitage coi là một tình tiết hết sức nghiêm trọng, gần như là cả một thảm họa, và ông nhìn vào hòn đá trông cứ như bàn thờ đầy nham hiểm trên đỉnh núi một hồi lâu.

Một lúc sau, vì đã được thông báo rằng sáng hôm ấy sẽ có một nhóm cảnh sát bang từ Aylesbury đến để giải quyết mấy cuộc gọi xoay quanh thảm kịch nhà Frye mà họ đã nhận được, nhóm khách đến làng quyết định sẽ đi tìm mấy viên sĩ quan kia và so sánh tất cả các thông tin có thể. Tuy nhiên, họ phát hiện ra điều này nói dễ hơn làm; vì họ không thấy bóng dáng của nhóm cảnh sát kia ở bất cứ đâu cả. Đã có năm cảnh sát đi ô tô đến, nhưng bây giờ thì chỉ có chiếc xe trống không, đỗ gần đống đổ nát trong sân nhà Frye. Toàn bộ dân bản địa đều đã nói chuyện với nhóm cảnh sát, và thoạt tiên họ xem chừng cũng ngơ ngác chẳng kém gì Armitage và những người bạn đồng hành của ông. Thế rồi lão Sam Hutchins già sực nghĩ ra gì đó và tái nhợt, huých Fred Farr rồi chỉ vào cái khoảng không ẩm ướt, sâu thẳm, nằm toang hoác gần đó.

“Ôi lạy Chúa,” lão hổn hển, “tui đã bảo với họ rằng chớ có đi vào trong thung lũng rùi. Tui chẳng bao giờ ngờ nổi lại vẫn có người dám làm như vậy khi đã có mấy cái dấu, mùi thúi, với đám chim đớp muỗi rú rít inh tai nhức óc dưới đấy, trong những chỗ tối giữa ban ngày ban mặt…”

Một cái rùng mình buốt giá lan tỏa khắp nhóm dân bản địa và những vị khách, mọi vành tai dường như đều căng hết lên, vô thức nghe ngóng theo bản năng. Giờ đây, khi đã thực sự chạm trán nỗi kinh hoàng và thành phẩm quái ác của nó, Armitage bị cái trách nhiệm mà ông cảm thấy là của mình khiến cho run lẩy bẩy. Màn đêm sẽ sớm buông xuống, và đó sẽ là lúc tảng núi báng bổ thánh thần kia lầm lũi bước đi trên con đường ma quái của nó. Negotium perambulans in tenebris… Người thủ thư già nhẩm lại các câu thần chú ông đã học thuộc, và siết chặt tờ giấy chứa những câu dự trù mà ông chưa ghi nhớ. Ông đảm bảo rằng cây đèn pin của mình vẫn hoạt động tốt. Rice, bên cạnh ông, lấy từ trong va-li ra một thiết bị phun bằng kim loại, kiểu hay dùng để diệt côn trùng; trong khi Morgan tháo khẩu súng trường săn thú lớn mình sẽ dùng ra, bất chấp đã được đồng nghiệp cảnh báo rằng sẽ không có món vũ khí trần thế nào giúp ích gì được.

Vì đã đọc cuốn nhật ký gớm guốc, Armitage biết rất rõ nên mong đợi sẽ thấy nó xuất hiện dưới dạng hình gì; nhưng ông không đưa ra bất kỳ gợi ý hay manh mối nào để tránh làm đám dân Dunwich thêm phần sợ hãi. Ông hi vọng sẽ có thể đánh bại được nó mà không để lộ cho thế giới biết về con quái vật đã trốn thoát. Khi bóng tối dần dồn tụ lại, dân bản địa bắt đầu tản hết về nhà, chỉ chăm chăm muốn đóng cửa cài then cố thủ trong nhà, cho dù nay đã có bằng chứng cho thấy rằng mọi loại khóa với then của con người đều vô dụng trước một thế lực có thể bẻ cong cây cối và nghiền nát nhà cửa nếu muốn. Họ lắc đầu trước kế hoạch đứng canh tại bãi hoang tàn nhà Frye gần thung lũng của mấy người khách; và khi rời đi, họ chẳng mấy kỳ vọng sẽ được tái ngộ những người ở lại đấy canh.

Đêm hôm đó, có tiếng ầm ầm vọng lên từ dưới những ngọn đồi, và đám chim đớp muỗi kêu đầy hăm dọa. Thỉnh thoảng, một cơn gió thổi ra từ thung lũng Cold Spring sẽ phả vào trong làn không khí đêm nặng nề một mùi hôi thối khó tả; cái mùi mà cả ba người canh gác đều từng ngửi thấy trước đây, trong cái lần họ đứng nhìn xuống một tạo vật hấp hối từng giả dạng con người suốt mười lăm năm rưỡi. Nhưng nỗi kinh hoàng họ ngóng đợi không xuất hiện. Cái thứ ở trong thung lũng dưới đó, bất kể nó có là gì, cũng đang chờ đợi thời cơ, và Armitage nói với các đồng nghiệp rằng thử tấn công nó trong bóng tối sẽ chẳng khác nào tự sát.

Buổi sáng âm u đến, và các âm thanh của màn đêm chấm dứt. Đó là một ngày xám xịt, ảm đạm, thỉnh thoảng lại có một cơn mưa phùn; và những đám mây ngày một vần vũ dường như đang chất chồng lên nhau đằng sau mấy ngọn đồi ở phía Tây Bắc. Nhóm người đến từ Arkham lưỡng lự không biết phải làm gì. Trong lúc trú khỏi trận mưa ngày càng nặng hạt bên dưới một trong những gian nhà phụ vẫn chưa bị phá hủy ít ỏi của gia đình Frye, họ bàn luận xem liệu có nên chờ đợi không, hay là chủ động và xuống thung lũng để săn lùng con mồi quái dị, vô danh của mình. Cơn mưa càng lúc càng đổ xuống tầm tã, và tiếng sấm vang lên từng hồi từ những chân trời xa. Chớp lấp lánh sáng lòa, và rồi một tia sét hình chữ Z loé lên ngay gần đấy, như thể lao vào trong cái thung lũng đáng nguyền rủa kia. Bầu trời trở nên tối sầm, và những người canh gác hi vọng rằng đây sẽ chỉ là một cơn bão ngắn, dữ dội, và sau đấy thì thời tiết sẽ trở nên quang quẻ.

Không hơn một tiếng sau là bao, lúc trời hãy còn tối mịt mùng, một tràng những giọng người hỗn độn vọng đến từ trên đường. Chốc sau, một nhóm hơn chục người đang phát hoảng lọt vào trong tầm mắt, vừa chạy vừa la hét, và thậm chí còn cuồng loạn khóc thút thít. Ai đó đi đầu nhóm bắt đầu gào lên mấy lời gì đó, và đám người từ Arkham giật nảy mình khi những lời lẽ ấy trở nên có ý nghĩa rành mạch.

“Ôi lạy Chúa, lạy Chúa,” cái giọng nghèn nghẹt nói. “Nó lại tác oai tác quái rồi, lần này là giữa ban ngày ban mặt! Nó đang ở ngoài - nó đang ở ngoài và lang thang khắp nơi ngay lúc này, và chỉ có Chúa mới biết khi nào thì nó sẽ đến được chỗ tất cả chúng ta!”

Người nói thở hổn hển và dần im lặng, nhưng một người khác đã tiếp nối bức thông điệp của anh ta.

“Gần một tiếng trước, Zeb Whateley đây nghe thấy điện thoại rung, người gọi là Corey, vợ của George, sống ở gần chỗ đoạn đường giao. Cổ nói Luther, thằng nhóc làm công, đang lùa lũ bò vào chuồng tránh bão sau khi có tia sét lớn đánh thì nhìn thấy toàn bộ cây cối oằn xuống ở miệng thung lũng - đầu đối diện đầu này - và ngửi thấy cùng cái mùi kinh khủng mà nó từng ngửi được lúc phát hiện ra những dấu chân lớn sáng thứ Hai tuần trước. Corey bảo nó nói có tiếng sột soạt, oàm oạp gì đó nữa, không phải kiểu tiếng mớ cây và bụi rậm xiêu vẹo có thể tạo ra, và mớ cây dọc trên con đường đột ngột bắt đầu bị đẩy bạt sang một bên, và có tiếng giậm chân bì bõm trong bùn nghe rất kinh khủng. Nhưng vấn đề là Luther không nhìn thấy gì cả, chỉ mỗi mớ cây và bụi rậm bị bẻ oằn đi thôi.

“Thế rồi ở mạn phía trước, chỗ suối Bishop chảy dưới con đường, Luther nghe thấy một tràng những tiếng cót két và oằn mình trên cây cầu, và nói nó có thể nghe ra tiếng gỗ bắt đầu nứt vỡ và bửa ra. Trong lúc toàn bộ những chuyện ấy xảy ra, nó không hề nhìn thấy gì cả, chỉ mình cây cối và bụi rậm cong xuống. Và khi cái tiếng sột soạt đã đi xa hẳn - trên con đường dẫn về phía nhà của Phù thủy Whateley và đồi Sentinel - Luther đã táo gan chạy ra chỗ lúc đầu mình nghe thấy cái tiếng kia và quan sát mặt đất. Chỉ có toàn bùn với nước, và trời thì mịt mùng, mưa lại còn đang ào ào xoá biến tất cả các dấu vết; nhưng ở đầu miệng thung lũng, chỗ đám cây đã chuyển động, một số dấu chân to như thùng phuy, giống mấy cái dấu nó đã nhìn thấy hôm thứ Hai vẫn còn nguyên đấy.”

Đến đoạn này, nhân vật từng kích động cất tiếng lúc ban đầu ngắt lời.

“Nhưng đó không phải là vấn đề - đó chỉ là sự khởi đầu thôi. Đang lúc Zeb đây gọi điện cho tất cả mọi người và họ còn đang lắng nghe thì một cuộc gọi từ nhà Seth Bishop chen ngang. Quản gia Sally của ổng kể lể như phát rồ - cổ vừa mới nhìn thấy mấy cái cây oằn xuống bên đường, và nói có tiếng ướt át gì đấy, như một con voi đang phun phì phì và bước đi, tiến về phía ngôi nhà. Thế rồi cổ bất chợt đề cập đến một mùi đáng sợ, nói rằng thằng nhóc Chauncey gào thét rằng cái mùi này giống hệt như cái mùi nó đã ngửi thấy ở chỗ bãi hoang nhà Whateley vào sáng thứ Hai. Và lũ chó cứ sủa với rên rỉ rất ghê.

“Sau đó thì Sally rú lên một tiếng hết sức khủng khiếp, và kêu cái nhà kho mạn dưới đường vừa mới bẹp dúm lại như thể bị bão thổi bay, chỉ có điều gió không đủ mạnh để gây ra chuyện ấy. Tất cả mọi người đều lắng nghe, và bọn tui có thể nghe thấy rất nhiều người trên đường dây thở hổn hển. Bất thình lình Sally lại hét lên, bảo hàng rào sân trước vừa mới vỡ vụn, mặc dù không có bất cứ dấu hiệu gì cho thấy thứ nào đã gây ra chuyện đó hết. Sau đó, mọi người trên đường dây đều có thể nghe thấy Chauncey và lão Seth Bishop già cũng la hét nốt, Sally thì rú lên rằng một thứ nặng nề gì đó đập vào ngôi nhà - không phải sét hay gì hết, mà là thứ gì đó đập vào phía trước nhà, và cứ liên tục đập không ngừng, mặc dù khi nhìn ra ngoài cửa sổ trước thì chẳng thể thấy gì cả. Và rồi… và rồi…”

Nét hãi sợ hằn sâu trên mọi khuôn mặt; và mặc dù rất run rẩy, Armitage còn vừa đủ điềm đạm để thúc người kia nói tiếp.

“Và rồi… Sally gào lên, ‘Ôi cứu với, căn nhà đang sập’… và trên đường dây, bọn tui có thể nghe thấy một tiếng sụp kinh thiên động địa, và rất nhiều tiếng la hét… giống hệt như lúc nhà của Elmer Frye bị sụp, chỉ có điều…”

Người kia dừng lại, và một người khác trong đám bọn họ nói.

“Chỉ có vậy thôi - sau đó thì chẳng có lấy một âm thanh hay tiếng động nào truyền qua điện thoại nữa. Im phăng phắc. Những người nghe thấy cuộc gọi đó lấy hết xe cộ ra và tụ tập tất cả đàn ông con trai khỏe mạnh mình có thể kiếm được tại nhà của Corey, rồi qua đây để xem mấy ông tính tốt nhất là nên làm gì. Nhưng tui nghĩ đây là hình phạt của Chúa cho những tội lỗi của bọn tui, và không người phàm trần nào có thể thoát được.”

Armitage thấy rằng thời khắc ra tay hành động đã đến, và nói một cách dứt khoát với nhóm dân quê đang hoảng sợ và nao núng ấy.

“Chúng ta phải bám theo nó, thưa các cậu.” Ông giữ cho giọng nghe trấn an nhất có thể. “Tôi tin rằng ta có cơ hội để triệt tiêu nó. Mấy người đã biết gia đình Whateley là phù thủy rồi đấy - cái thứ này là thành phẩm của ma pháp phù thủy, và phải được tiêu diệt bằng cùng cách ấy. Tôi đã xem nhật kí của Wilbur Whateley và đọc một số cuốn sách cũ kỳ lạ hồi trước nó vẫn đọc; tôi nghĩ mình biết câu thần chú cần tụng để làm cho cái thứ kia biến đi. Tất nhiên, không ai có thể khẳng định chắc chắn được điều gì, nhưng chúng ta luôn có thể thử đánh liều. Nó vô hình - tôi biết nó sẽ như thế - nhưng trong thiết bị phun nước tầm xa này là một thứ bột có thể khiến nó hiện hình trong tích tắc. Lát nữa chúng ta sẽ thử. Để cho nó sống thì quả là đáng sợ thật, nhưng thế vẫn chưa tệ bằng những gì Wilbur sẽ cho lọt vào đây nếu nó sống được lâu hơn đâu. Mọi người sẽ không bao giờ biết được thế giới đã thoát khỏi kiếp nạn nào. Bây giờ thì chúng ta chỉ có duy nhất một thứ cần chiến đấu chống lại, và nó không thể nhân lên. Tuy nhiên, nó có thể gây rất nhiều thiệt hại; thế nên chúng ta không được phép ngần ngại, phải loại bỏ nó ra khỏi cộng đồng ngay.

“Chúng ta phải bám theo nó - và cách khởi đầu là đến cái nơi vừa bị tàn phá. Hãy để ai đó dẫn đường đi - tôi không thông thạo đường đi lối lại của mọi người, nhưng tôi tin chắc là có một đường tắt ngắn hơn dẫn qua các lô nhà. Mọi người thấy thế nào?”

Đám bọn họ đảo qua đạo lại một lúc, và rồi Earl Sawyer nói khẽ, đưa một ngón tay đầy cáu ghét chỉ qua cơn mưa đang ngớt dần.

“Tui đoán đường nhanh nhất đến nhà của Seth Bishop là đi tắt qua cánh đồng cỏ mạn dưới này, lội qua suối ở những chỗ nông, và trèo qua đồng rạ của Carrier và bãi chất gỗ đằng sau đấy. Nó dẫn ra con đường trên, mạn gần sát nhà của Seth - hơi lệch một chút.”

Armitage, cùng với Rice và Morgan, bắt đầu đi theo hướng được chỉ; và hầu hết dân bản địa chậm rãi bám theo. Bầu trời đang càng lúc càng hửng sáng, và có một số dấu hiệu cho thấy cơn bão đã dần tan. Khi Armitage vô tình rẽ lệch hướng, Joe Osborn cảnh báo ông và đi lên trước để chỉ cho ông thấy hướng chuẩn. Lòng can đảm và sự tự tin đang gia tăng; mặc dù cái bóng nhập nhoạng của ngọn đồi đầy cây rừng dựng gần như vuông góc nằm ở phía cuối con đường tắt của họ, nơi họ phải len lỏi leo giữa những cây cổ thụ đầy huyễn hoặc như thể leo thang, khiến cho những phẩm chất kia bị thử thách rất nặng nề.

Một hồi sau, họ ra đến một con đường lầy lội và thấy mặt trời đang dần ló ra. Họ hơi xa nhà Seth Bishop một chút, nhưng những cái cây cong oằn và các dấu vết gớm guốc không thể lẫn đi đâu được cho thấy thứ gì từng đi qua đây. Họ chỉ dành ra vài khoảnh khắc để khảo sát mớ hoang tàn ngay bên kia khúc quanh. Nó cũng không khác gì vụ nhà Frye, và chẳng thể tìm thấy bất cứ thứ gì, dù là đã chết hay còn sống, trong hai khối đổ nát từng là nhà và chuồng trại của gia đình Bishop. Không ai muốn ở lại giữa cái mùi hôi thối và lớp nhựa đường dính dớp. Theo bản năng, tất cả bọn họ cùng quay về phía hàng dấu chân khủng khiếp dẫn đến nông trại Whateley tan hoang và những sườn dốc của quả đồi với bàn thờ trên đỉnh mang tên Sentinel.

Khi đi qua nơi ở của Wilbur Whateley, mấy người bọn họ rùng mình rõ rệt, và thêm một lần nữa, sự do dự dường như lại bị trộn lẫn vào với lòng nhiệt thành của họ. Truy lùng một thứ to lớn ngang cả ngôi nhà mà chẳng ai nhìn thấy nổi, nhưng sở hữu mọi sự ác hiểm tàn độc của một con ác quỷ không phải là chuyện đùa. Ở chỗ đối diện với chân đồi Sentinel, các dấu vết rời khỏi con đường, và có một đoạn bẻ cong cũng như đập bết chạy dọc theo dải đất rộng đánh dấu tuyến đường leo lên leo xuống đỉnh đồi cũ của con quái vật.

Armitage lấy ra chiếc ống nhòm bỏ túi với độ phóng đại lớn và rà soát mặt dốc xanh của ngọn đồi. Thế rồi ông đưa nó cho Morgan, người sở hữu thị lực sắc sảo hơn. Sau một hồi quan sát, Morgan kêu lên một tiếng thảng thốt, đưa ống nhòm cho Earl Sawyer và đưa ngón tay chỉ vào một điểm nhất định trên con dốc. Như hầu hết những người không quen sử dụng thiết bị quang học khác, Sawyer phải vụng về dò dẫm một lúc; nhưng cuối cùng căn cho các lăng kính hội tụ được vào với nhau với sự trợ giúp của Armitage. Sau khi làm vậy, tiếng kêu của gã không được kiềm chế bằng Morgan.

“Lạy Chúa toàn năng, cỏ và bụi cây đang di chuyển! Nó đang di chuyển lên trên - chậm thôi - leo lên đỉnh ngay phút này, chỉ có trời mới biết là để làm gì!”

Thế rồi mầm mống hoảng loạn dường như lan truyền rộng khắp đoàn người đi tìm kiếm. Theo đuổi một thực thể không tên là một chuyện, nhưng tìm thấy nó lại là chuyện hoàn toàn khác. Bùa chú có thể sẽ đúng chuẩn - nhưng nhỡ không thì sao? Bắt đầu có một vài giọng người hỏi han Armitage xem ông biết gì về cái thứ kia, và không câu trả lời nào là có vẻ đủ thỏa mãn hết. Tất cả mọi người đều cảm thấy mình như trần trụi, cận kề với thiên nhiên và với một thực thể cấm kỵ tột cùng, hoàn toàn nằm ngoài trải nghiệm lành mạnh của nhân loại.

- X -

Cuối cùng, ba người đàn ông đến từ Arkham - Tiến sĩ Armitage già cả, râu bạc phơ, Giáo sư Rice vạm vỡ, tóc tai hoa râm như thép, và Tiến sĩ Morgan gầy gò, tương đối trẻ tuổi - phải một mình leo lên núi. Sau một hồi kiên nhẫn hướng dẫn cách căn chỉnh lăng kính và sử dụng ống nhòm, họ giao nó cho nhóm người khiếp đảm ở lại trên đường giữ; và trong quá trình leo, họ được nhóm ấy theo dõi sát sao bằng cách chuyền tay nhau ống nhòm. Đường leo rất khó khăn, và Armitage phải hơn một lần cần được giúp đỡ. Tít bên trên nhóm người đang cực nhọc leo, vệt đất khổng lồ rung rinh khi cái thứ đáng kinh tởm từng tạo ra nó lại một lần nữa băng qua đấy, di chuyển lề mề như ốc sên. Sau đó thì có thể thấy rõ là những người đuổi theo đang dần rút ngắn khoảng cách.

Curtis Whateley - thuộc bên nhánh chưa thoái hóa của gia tộc - là người giữ ống nhòm lúc nhóm Arkham đi chệch hẳn khỏi vệt đất. Anh ta nói với cả đám rằng mấy người bọn họ có vẻ đang tìm một đỉnh thấp hơn, nhìn ra chỗ vệt đất tại một điểm nằm trước chỗ cây bụi đang oằn xuống, cách nó khá xa. Quả đúng là như vậy; và họ thấy nhóm người kia leo được lên đến cái gò nhỏ đấy ngay sau khi tạo vật báng bổ tàng hình kia vừa đi qua chỗ đó.

Thế rồi Wesley Corey, người lúc bấy giờ đã cầm lấy ống nhòm, thốt lên rằng Armitage đang điều chỉnh cái máy phun mà Rice cầm, và hẳn sắp sửa có điều gì đấy xảy ra. Đám đông rục rịch đầy bồn chồn, nhớ lại rằng theo dự kiến, thiết bị phun thuốc này sẽ khiến cho cái nỗi kinh hoàng vô hình kia lộ diện trong thoáng chốc. Hai, ba người gì đó nhắm tịt mắt vào, nhưng Curtis Whateley thì giật lại ống nhòm và căng hết mắt lên nhìn. Anh ta thấy rằng từ vị trí thuận lợi nơi cả nhóm đang đứng, nằm bên trên và đằng sau cái thứ kia, Rice nắm trong tay cơ hội tuyệt vời để phân tán một cách hết sức hiệu quả thứ bột mạnh của họ.

Những người không có ống nhòm chỉ nhìn thấy một đám mây xám - với kích thước tương đương một tòa nhà tương đối lớn - thoáng xuất hiện gần đỉnh núi. Curtis, người cầm ống nhòm, hét lên lanh lảnh và thả rơi ống nhòm xuống lớp bùn sâu ngang mắt cá chân trên đường. Anh ta lảo đảo, và đáng lẽ đã ngã sụp xuống đất nếu không được hai, ba người khác túm lấy và giữ cho đứng yên. Tất cả những gì anh ta có thể làm là rên rỉ rất khó nghe,

“Ôi, ôi, lạy Chúa… cái thứ đó… cái thứ đó.”

Tất cả nháo nhào lên hỏi, và chỉ mình Henry Wheeler nghĩ đến việc nhặt cái ống nhòm bị đánh rơi lên và lau sạch bùn đi. Curtis chẳng còn nói năng được mạch lạc nữa, và anh ta thậm chí còn gần như không tài nào đưa ra nổi các câu trả lời riêng lẻ.

“To hơn một cái chuồng… toàn bằng dây thừng oằn oại… nhìn tổng thể hao hao giống trứng gà, to chưa từng thấy, hàng chục chân như những cái thùng phuy khép hờ lại mỗi khi bước đi… chẳng có gì rắn chắc cả - tổng thể hệt như thạch, cấu thành từ hàng đống dây thừng ngoe nguẩy riêng rẽ, áp sát vào với nhau… mắt lớn tướng, lồi ra, phủ khắp người… mười hay hai mươi cái miệng hoặc vòi gì đấy thò ra dọc khắp hai bên, to như ống khói lò, tất cả đều vung vẩy và mở ra khép vào… tất cả đều xám xịt, với các vòng mang màu xanh hoặc tím gì đó… và trời đất ơi - cái bản mặt phân nửa trên đỉnh ấy.”

Ký ức cuối cùng này, bất kể nó có là gì, cũng khiến cho Curtis tội nghiệp không còn có thể chịu đựng nổi nữa; và anh ta lăn ra ngất xỉu hoàn toàn trước khi kịp nói gì thêm. Fred Farr và Will Hutchins khiêng anh ta vào lễ đường và đặt anh ta nằm xuống bãi cỏ ẩm ướt. Henry Wheeler run rẩy quay chiếc ống nhòm đã nhặt lên về phía ngọn núi để xem xét. Ba hình hài tí hon có thể được thấy rõ qua các lăng kính, xem chừng đang chạy về phía đỉnh với vận tốc nhanh hết mức có thể trên cái sườn đồi dốc. Chỉ ba người đấy thôi - không có gì hơn. Thế rồi tất cả bọn họ để ý thấy một âm thanh trái mùa khác thường, vọng lại từ trong thung lũng sâu thẳm phía đằng sau, và thậm chí là từ trong những bụi rậm của cả đồi Sentinel nữa. Đó chính là cái tiếng ríu rít của vô số những con chim đớp muỗi, và dường như lẩn khuất trong bản hợp xướng chói tai của chúng là một thanh âm ngóng đợi đầy căng thẳng và xấu xa.

Giờ thì đến lượt Earl Sawyer lấy chiếc ống nhòm và thông báo rằng ba nhân vật kia bây giờ đang đứng trên chỏm đồi cao nhất, gần như ngang bằng với bàn thờ đá, có điều ở cách nó một khoảng đáng kể. Anh ta nói có vẻ một người đang giơ hai tay lên trên đầu theo từng quãng rất nhịp nhàng; và trong lúc Sawyer mô tả lại tình huống, đám bọn họ dường như nghe thấy một âm thanh khẽ khàng, hơi giống điệu nhạc văng vẳng vọng đến từ xa, như thể một bài kinh đang được tụng để đi kèm với những động tác kia. Hình bóng kì lạ trên đỉnh đồi xa xôi đó hẳn trông phải cực kì dị hợm và ấn tượng, nhưng không người quan sát nào có tâm trạng để đánh giá khía cạnh thẩm mĩ của nó. “Tui đoán ổng đang đọc thần chú,” Wheeler thì thầm lúc giật lại chiếc ống nhòm. Đám chim đớp muỗi hót như hóa rồ, và với một nhịp điệu thất thường đến lạ, khác hẳn cái nghi thức họ đang nhìn thấy.

Đột nhiên ánh nắng dường như yếu đi, mặc dù không thấy có bất kì đám mây nào kéo đến che. Đây là một hiện tượng rất kỳ dị, và tất cả đều có thể dễ dàng nhận thấy. Một tiếng ì ầm dường như phát ra từ bên dưới những ngọn đồi, pha trộn đến lạ vào với một tiếng ầm ầm hòa khớp, rõ ràng từ trên trời vọng xuống. Những tia sét lóe lên trên cao, và đám người sửng sốt nhìn ngó xung quanh xem có thấy dấu hiệu gì là trời sắp bão không, nhưng chỉ vô ích. Tiếng tụng niệm của những người đến từ Arkham giờ đã không thể lẫn đi đâu được, và qua ống nhòm, Wheeler nhìn thấy tất cả bọn họ đều đang giơ tay niệm chú rất nhịp nhàng. Tiếng chó sủa điên cuồng vọng đến từ một số trang trại ở phía đằng xa.

Ánh sáng ban ngày càng bị biến chất tợn, và đám đông ngơ ngẩn nhìn về phía đường chân trời. Một bóng tối tim tím, sinh ra từ chính cái sắc xanh bị làm thẫm lại đầy ma mị của nền trời, đổ dồn xuống những ngọn đồi ì ầm. Rồi sét lại lóe lên, phần nào sáng hơn so với lúc trước, và đám đông có cảm tưởng nó đã soi tỏ một màn sương mù mịt nào đấy bao quanh bàn thờ đá trên đồi cao. Tuy nhiên, vào khoảnh khắc ấy, không có ai sử dụng chiếc ống nhòm cả. Đám chim đớp muỗi tiếp tục bài ca rộn ràng bất thường của chúng, và nhóm dân làng Dunwich căng thẳng gồng mình chuẩn bị tinh thần đón nhận một mối hiểm họa vô định nào đó, bấy giờ như đang tràn ngập trong bầu không khí.

Bất thình lình, những tiếng giọng trầm, đùng đoàng, lào khào vang lên. Các thanh âm đó sẽ luôn hằn in trong kí ức của đoàn người thất kinh từng nghe thấy. Chúng không bắt nguồn từ bất kì cổ họng con người nào, vì các cơ quan của loài người vô phương tạo ra những âm hưởng biến thái như vậy. Người ta đáng lẽ đã khẳng định rằng chúng đến từ chính cái hố, chỉ có điều nguồn gốc của chúng lại rõ ràng là hòn đá bàn thờ trên đỉnh. Gọi chúng là âm thanh cũng gần như là sai lầm, bởi vì các âm sắc ghê rợn, siêu trầm của chúng chủ yếu tác động đến những vùng ý thức hãi sợ mập mờ, tinh vi gấp bội đôi tai; ấy nhưng ta buộc phải tả chúng như vậy, vì hình thái của chúng quả thật là những câu chữ được phát âm trệu trạo, mặc dù nghe rất mơ hồ. Chúng rất to - to như tiếng ì ầm và tiếng sấm sét làm nền cho mình - ấy nhưng chúng lại chẳng đến từ một sinh linh hữu hình nào hết. Và bởi vì trí tưởng tượng có thể khơi gợi ra một thứ nguồn nằm trong thế giới của những sinh vật vô hình, đám đông đang túm tụm ở dưới chân núi lại càng rúc sát vào với nhau hơn, đồng thời nhăn mặt như thể đón đợi một đòn đánh giáng xuống.

“Ygnaiih… ygnaiih… thflthkh’ngha… Yog-Sothoth.” Tiếng lào khào gớm guốc từ thinh không rền vang cất lên. “Y’bthnk… h’ehye - n’grkdl’lh…”

Đến đây, cái xung động giọng kia có vẻ ngập ngừng, cứ như thể đang có một cuộc tranh đấu tâm linh đáng sợ diễn ra. Henry Wheeler căng mắt nhìn qua chiếc ống nhòm, nhưng chỉ thấy ba hình người hằn in đầy quái đản trên đỉnh đồi, tất cả đều đang liên tục đưa tay thực hiện những cử chỉ kì lạ trong khi câu thần chú của họ dần lên đến đỉnh điểm. Những giếng hãi sợ hay xúc cảm đây hắc ám nào, những vực thẳm ý thức vô đáy nằm ngoài biên giới vũ trụ nào, hay dòng dõi bí ẩn, tồn tại ngấm ngầm lâu đời nào đã sản sinh ra những thanh âm sấm sét ú ớ kia vậy? Chẳng bao lâu sau, chúng lại bắt đầu mạnh mẽ cũng như mạch lạc hơn, càng lúc càng hung hăng đến trần trụi, tột cùng, cực điểm.

“Eh-ya-ya-ya-yahaah — e’yayayayaaaa… ngh’aaaaa… ngh’aaaa… h’yuh… h’yuh… CỨU! CỨU!… ƒƒ – ƒƒ – ƒƒ - CHA! CHA ƠI! YOG-SOTHOTH!..”

Nhưng chỉ có vậy thôi. Nhóm người tái nhợt trên con đường, bấy giờ vẫn còn đang choáng váng trước những âm tiết rõ ràng là tiếng Anh vừa trút xuống ào ào như sấm rền từ khoảng không điên cuồng bên cạnh hòn đá bàn thờ khủng khiếp, sẽ không bao giờ còn được nghe lại những âm tiết đó nữa. Thay vào đó, họ giật nảy mình trước một âm thanh kinh khủng đến độ như xé tan cả các ngọn đồi. Không người nghe nào có thể xác định được cái tiếng inh tai, kinh thiên động địa ấy đến từ đâu, từ trong lòng đất hay trên bầu trời. Một tia sét lẻ loi phóng từ thiên đỉnh tím xuống hòn đá bàn thờ, và từ trên ngọn đồi, một làn sóng lực tàng hình cùng mùi hôi thối không bút nào tả xiết khổng lồ tràn xuống khắp toàn bộ vùng quê. Cây, cỏ, và bụi rậm bị quất điên cuồng; và đám đông hoảng sợ ở dưới chân núi, bấy giờ đã nhược cả người bởi cái mùi hôi thối đầy chết chóc như sắp khiến mình chết ngạt đến nơi, suýt nữa thì bị thổi bay đi. Lũ chó tru lên phía đằng xa, cỏ cây xanh rì héo úa thành một sắc vàng xám bệnh hoạn, lạ thường, và trên khắp các cánh đồng và khu rừng, xác chim đớp muỗi nằm rải rác.

Mùi xú uế nhanh chóng biến mất, nhưng thảm thực vật không bao giờ trở về bình thường được nữa. Cho đến tận ngày hôm nay, cây cỏ mọc trên và xung quanh ngọn đồi đáng sợ ấy cứ mang một nét gì đó kì quái và xấu xa. Curtis Whateley chỉ vừa mới bắt đầu hồi tỉnh khi nhóm người từ Arkham chậm rãi leo xuống núi giữa những ánh dương bấy giờ đã lại một lần nữa rực rỡ và thanh khiết. Họ đầy vẻ nghiêm trang và lặng lẽ, dường như đã bị một phen rúng động cả tâm can trước các kí ức và suy tư thậm chí còn khủng khiếp hơn những gì từng khiến đám dân bản địa run rẩy đến rúm ró cả lại. Trước hàng bao câu hỏi được nháo nhào đưa ra, họ chỉ lắc đầu và tái khẳng định đúng một thông tin chủ chốt.

“Cái thứ đó đã biến mất mãi mãi,” Armitage nói. “Nó đã bị xé tan thành những thứ vốn từng cấu thành nó, và không bao giờ có thể tồn tại được nữa. Nó là một thực thể bất khả thi trong một thế giới bình thường. Chỉ có phần cực nhỏ của nó mới thực sự là vật chất theo bất kỳ ý nghĩa nào mà chúng ta từng biết đến. Nó cũng giống như cha mình - và hầu hết thân thể của nó đã quay trở lại với hắn trong một cõi hoặc chiều không gian mơ hồ nào đó bên ngoài vũ trụ vật chất của chúng ta; một vực thẳm mơ hồ, và chỉ những nghĩ thức đáng nguyền rủa nhất của con người mới có thể triệu hồi được nó ra khỏi đấy, làm cho nó thoáng xuất hiện trên những ngọn đồi.”

Một khoảnh khắc im lặng bao trùm, và trong khoảng lặng đó, lý trí bị tán lạc của Curtis Whateley tội nghiệp bắt đầu hàn gắn lại với nhau, trở nên phần nào thống nhất; và anh ta đưa hai tay lên ôm đầu rên rỉ. Kí ức dường như đã ùa về, tiếp nối đoạn ban nãy bị ngắt ngang, và nỗi kinh hoàng của cảnh tượng từng đánh quỵ anh ta lại ập xuống đầu anh ta.

“Ô, ôi lạy Chúa, cái bản mặt chỉ có phân nửa - cái bản mặt chỉ có phân nửa trên đỉnh của nó… khuôn mặt với đôi mắt đỏ và mái tóc bạch tạng bù xù, không cằm, chẳng khác nào nhà Whateley… Nó giống như bạch tuộc, rết, nhện gì đó, nhưng mang khuôn mặt phân nửa là của con người trên cùng, trông giống như mặt của Phù thủy Whateley, chỉ có điều nó rộng hàng mét…”

Anh ta dừng lại vì kiệt sức, trong lúc toàn bộ đám dân bản địa tròn mắt nhìn với một vẻ hoang mang hãy còn chưa kết tinh lại thành nỗi khiếp đảm mới. Chỉ có mình lão Zebulon Whateley già, người vơ vẩn nhớ những chuyện xưa cũ nhưng tính đến nay chưa hở lời nào, là cất tiếng nói.

“Mười lăm năm trước,” lão ê a nói, “tui nghe lão Whateley bảo rồi sẽ có ngày chúng ta nghe thấy một đứa con của Lavinny gọi tên cha nó trên đỉnh đồi Sentinel…”

Nhưng Joe Osborn ngắt lời lão để tiếp tục hỏi han nhóm người từ Arkham.

“Tóm lại nó là cái gì thế, và làm thế quái nào mà thằng oắt Phù thủy Whateley triệu tập được nó từ thinh không vậy?”

Armitage lựa chọn lời lẽ một cách rất cẩn thận.

“Nó là… chà, nó chủ yếu là một kiểu thế lực không thuộc về chiều không gian của chúng ta; một kiểu thế lực hành động, phát triển và định hình bản thân dựa trên các định luật khác với những quy luật tự nhiên của chúng ta. Chúng ta không được phép triệu những thứ đến từ ngoài thế giới của mình như vậy đến đây, và chỉ những phường cực kì tà tâm cũng như những giáo phái cực kì độc ác mới tìm cách làm điều đó. Trong chính bản thân Wilbur Whateley cũng chứa đựng đôi chút cái thứ ấy - đủ để biến nó thành một con quỷ và một thần đồng quái thai, và khiến cái chết của nó trông hết sức khủng khiếp. Tôi sẽ đốt cuốn nhật ký đáng nguyền rủa của nó, và nếu biết khôn thì mấy anh hãy liệu mà dùng thuốc nổ phá hủy hòn đá bàn thờ trên đấy đi, kéo sập tất cả các vòng đá còn đang dựng trên những ngọn đồi khác nữa. Chính những thứ như thế đã đưa các tạo vật mà gia đình Whateley từng mến mộ đến đây - các tạo vật họ định sẽ cho vào dưới dạng hữu hình để xóa sổ loài người và kéo Trái Đất đến một chốn vô danh vì một mục đích bí hiểm nào đó.

“Nhưng về cái thứ chúng tôi vừa mới tống tiễn trở lại kia - gia đình Whateley nuôi nó nhằm cho nó đóng một vai trò khủng khiếp trong những mưu đồ sau này. Nguyên nhân nó phát triển nhanh và lớn đến nhường ấy cũng tương tự lí do Wilbur phát triển nhanh và lớn đến vậy - nhưng nó lớn nhanh hơn đứa kia bởi vì nó mang trong mình nhiều máu ngoại giới hơn. Anh không cần phải hỏi làm thế nào mà Wilbur triệu tập được nó từ thinh không đâu. Wilbur không triệu tập nó. Đó là anh em sinh đôi của Wilbur, nhưng nó trông giống cha mình hơn đứa kia.”

Ảnh minh họa Wilbur, không rõ tác giả

Truyện liên quan

Arcadia – Ba Năm Sau Khi Khai Mở, Tôi Mới Bắt Đầu Chinh Phục Thế Giới Ảo Hoàn thành Nhật Bản

Arcadia – Ba Năm Sau Khi Khai Mở, Tôi Mới Bắt Đầu Chinh Phục Thế Giới Ảo

Web Novel Yu Yu
Cập nhật: 6 ngày trước

Thiết bị game VR【Arcadia】, thiết bị đầu tiên và duy nhất trên thế giới hiện thực hóa thế giới ảo.. ...

813 3.3k
Trở Thành Hướng Dẫn Viên Của Kẻ Phản Diện Mắc Bệnh Sạch Sẽ? Tuyệt Đối Không! Hoàn thành Hàn Quốc

Trở Thành Hướng Dẫn Viên Của Kẻ Phản Diện Mắc Bệnh Sạch Sẽ? Tuyệt Đối Không!

Web Novel R19
Cập nhật: 1 tuần trước

Tóm tắt. Tôi tỉnh dậy và nhận ra mình đã xuyên vào một trò chơi mô phỏng lấy bối cảnh ...

374 2k
Tôi Chưa Bao Giờ Muốn Có Con Với Anh Ấy Đang ra Hàn Quốc

Tôi Chưa Bao Giờ Muốn Có Con Với Anh Ấy

Web Novel R19
Cập nhật: 1 tuần trước

Tóm tắt. Nàng đã muốn tìm đến cái chết.

260 1.8k
Phép Biện Chứng Giữa Ông Chủ Và Nô Lệ Hoàn thành Hàn Quốc

Phép Biện Chứng Giữa Ông Chủ Và Nô Lệ

Web Novel R21
Cập nhật: 1 tuần trước

Tóm tắt. ※ Tác phẩm này có chứa những phân cảnh có thể gây tranh cãi, bao gồm các yếu ...

278 1.8k
Mồi Săn (Lee Seohan) Hoàn thành Hàn Quốc

Mồi Săn (Lee Seohan)

Web Novel Lee Seohan
Cập nhật: 1 tuần trước

Tóm tắt. “Thật khủng khiếp. Người chồng này và cuộc hôn nhân này.”.

204 1.6k
Chuyện Gì Đã Xảy Ra Với Vị Bạo Chúa Sau Khi Vị Hoàng Hậu Mang Thai Bỏ Đi Hoàn thành Hàn Quốc

Chuyện Gì Đã Xảy Ra Với Vị Bạo Chúa Sau Khi Vị Hoàng Hậu Mang Thai Bỏ Đi

Web Novel
Cập nhật: 1 tuần trước

Tóm tắt. Nàng đã tự dâng mình cho kẻ thù để cứu lấy đất nước.

301 1.6k